Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Giới thiệu chung về Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5877:1995 (ISO 2361:1982)

Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5877:1995 hoàn toàn tương đương với tiêu chuẩn quốc tế ISO 2361:1982. Tiêu chuẩn này quy định phương pháp sử dụng các thiết bị từ tính để đo chiều dày của lớp mạ điện niken trên cả chất nền từ tính (như sắt, thép) và chất nền không từ tính (như đồng, đồng thau, nhôm, chất dẻo). Đây là phương pháp đo không phá hủy mẫu, đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm tra chất lượng bề mặt và độ bền của lớp mạ trong các ngành công nghiệp chế tạo, cơ khí chính xác và xi mạ.

- Phạm vi áp dụng của tiêu chuẩn (Điều 1)

  • Tiêu chuẩn này quy định phương pháp đo chiều dày lớp mạ điện niken bằng thiết bị từ tính. Phương pháp này được áp dụng cụ thể cho hai trường hợp: lớp mạ niken trên chất nền từ tính và lớp mạ niken trên chất nền không từ tính.
  • Đối với lớp mạ niken trên chất nền từ tính, phép đo dựa trên sự khác biệt về tính chất từ giữa lớp mạ niken (có tính từ tính yếu hơn) và chất nền sắt từ (như thép hoặc sắt).
  • Đối với lớp mạ niken trên chất nền không từ tính, phép đo dựa trên lực hút từ giữa đầu đo của thiết bị với bản thân lớp mạ niken (do niken là kim loại có tính từ).
  • Tiêu chuẩn lưu ý rằng tính chất từ của lớp mạ niken điện hóa phụ thuộc rất lớn vào điều kiện công nghệ mạ (như mật độ dòng điện, thành phần dung dịch mạ, nhiệt độ) và chế độ xử lý nhiệt sau mạ. Do đó, việc hiệu chuẩn thiết bị đo phải được thực hiện cực kỳ cẩn thận bằng cách sử dụng các mẫu chuẩn có tính chất từ tương đương với mẫu thử.

- Nguyên lý đo của phương pháp từ tính (Điều 2)

  • Các thiết bị đo chiều dày bằng phương pháp từ tính hoạt động dựa trên một trong hai nguyên lý vật lý cơ bản: lực hút từ trường hoặc điện trở từ (từ trở).
  • Nguyên lý lực hút từ: Đo lực cần thiết để tách một nam châm vĩnh cửu ra khỏi bề mặt của hệ thống gồm lớp mạ và chất nền. Lực hút này thay đổi tỷ lệ thuận hoặc nghịch với chiều dày của lớp mạ niken tùy thuộc vào loại chất nền (từ tính hay không từ tính).
  • Nguyên lý từ trở (cảm ứng từ): Sử dụng một đầu đo có lõi sắt từ được quấn cuộn dây dẫn. Sự thay đổi chiều dày của lớp mạ niken làm thay đổi từ trở của mạch từ đi qua lớp mạ và chất nền, từ đó làm thay đổi suất điện động cảm ứng hoặc dòng điện trong cuộn dây. Sự thay đổi này được chuyển đổi trực tiếp thành giá trị chiều dày hiển thị trên thiết bị đo.

- Các yếu tố ảnh hưởng đến độ chính xác của phép đo (Điều 3)

Độ chính xác của phép đo chiều dày lớp mạ niken bằng phương pháp từ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố kỹ thuật và vật lý. Tiêu chuẩn quy định rõ các yếu tố cần kiểm soát bao gồm:

  • Tính chất từ của kim loại nền: Đối với phép đo trên chất nền từ tính, sự biến động về độ từ thẩm của kim loại nền có thể gây ra sai số lớn. Cần phải hiệu chuẩn thiết bị trên chính kim loại nền của mẫu thử hoặc kim loại có tính chất từ tương đương.
  • Tính chất từ của lớp mạ niken: Do tính chất từ của niken mạ điện có thể thay đổi tùy theo cấu trúc tinh thể và hàm lượng tạp chất (ví dụ niken bóng chứa lưu huỳnh có tính từ khác niken mờ), việc sử dụng mẫu chuẩn có cùng kiểu lớp mạ là bắt buộc để đảm bảo độ chính xác.
  • Chiều dày của kim loại nền: Mỗi thiết bị đo đều có một giới hạn chiều dày nền tới hạn. Nếu chiều dày của chất nền nhỏ hơn trị số tới hạn này, kết quả đo sẽ bị ảnh hưởng bởi độ dày của nền. Phép đo chỉ chính xác khi chiều dày nền vượt quá trị số tới hạn hoặc khi thiết bị được hiệu chuẩn trên nền có cùng độ dày.
  • Hiệu ứng bờ (ảnh hưởng của mép mẫu): Phép đo từ tính rất nhạy cảm với sự thay đổi đột ngột về hình học của mẫu. Không nên tiến hành đo tại các vị trí quá gần mép, cạnh, góc hoặc các đường cong đột ngột của mẫu thử trừ khi thiết bị được hiệu chuẩn riêng cho các vị trí đó.
  • Độ cong của bề mặt: Độ cong của mẫu thử (cả cong lồi và cong lõm) ảnh hưởng mạnh đến sự tiếp xúc của đầu đo và sự phân bố đường sức từ. Do đó, việc hiệu chuẩn phải được thực hiện trên các bề mặt có cùng bán kính cong với mẫu đo thực tế.
  • Độ nhám bề mặt: Bề mặt của cả chất nền và lớp mạ nếu quá nhám sẽ gây ra sai số ngẫu nhiên cho phép đo. Để khắc phục, cần thực hiện nhiều phép đo tại các điểm khác nhau và lấy giá trị trung bình.
  • Độ sạch của bề mặt và đầu đo: Bụi bẩn, dầu mỡ, vảy oxit hoặc các hạt kim loại bám trên đầu đo hoặc bề mặt mẫu đều làm tăng khoảng cách cơ học, dẫn đến sai số nghiêm trọng. Bề mặt đo phải được làm sạch hoàn toàn trước khi tiến hành.

- Hiệu chuẩn thiết bị đo (Điều 4)

Để đảm bảo kết quả đo có độ tin cậy cao, thiết bị đo phải được hiệu chuẩn trước khi sử dụng và kiểm tra định kỳ trong quá trình đo theo các nguyên tắc sau:

  • Sử dụng mẫu chuẩn phù hợp: Việc hiệu chuẩn phải được thực hiện bằng cách sử dụng các tấm chuẩn độ dày (foils) hoặc các mẫu chuẩn có chiều dày lớp mạ đã biết trước một cách chính xác. Các mẫu chuẩn này phải có chất nền và lớp mạ tương đồng nhất có thể với mẫu thử về cả tính chất hóa học, cơ lý và hình học.
  • Quy trình hiệu chuẩn điểm không (Zero calibration): Đặt đầu đo trực tiếp lên chất nền không mạ (hoặc chất nền tương đương) để thiết lập điểm không của thiết bị trước khi tiến hành đo lớp mạ.
  • Hiệu chuẩn nhiều điểm (Multi-point calibration): Sử dụng các mẫu chuẩn có chiều dày nằm trong khoảng dự kiến của lớp mạ cần đo để thiết lập đường cong chuẩn cho thiết bị. Việc này giúp loại bỏ sai số phi tuyến tính của đầu đo từ tính.
  • Kiểm tra độ lặp lại: Thực hiện nhiều lần đo trên cùng một vị trí của mẫu chuẩn để đánh giá độ ổn định và độ lặp lại của thiết bị trước khi tiến hành đo hàng loạt trên sản phẩm thực tế.

TCVN 5877:1995

ISO 2361:1982

LỚP MẠ ĐIỆN NIKEN TRÊN CHẤT NỀN TỪ VÀ KHÔNG TỪ - ĐO CHIỀU DÀY LỚP MẠ - PHƯƠNG PHÁP TỪ

Electrodeposited nikel coatings on magnetic and non-magnetic substrates - Measurement of coating thickness - Magnetic method

 

Lời nói đầu

TCVN 5877:1995 hoàn toàn tương đương với ISO 2361:1982.

TCVN 5877:1995 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn TCVN/TC 135 Thử không phá hủy biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng đề nghị, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) ban hành.

Tiêu chuẩn này được chuyển đổi năm 2008 từ Tiêu chuẩn Việt Nam cùng số hiệu thành Tiêu chuẩn Quốc gia theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật và điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 1/8/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật.

 

LỚP MẠ ĐIỆN NIKEN TRÊN CHẤT NỀN TỪ VÀ KHÔNG TỪ - ĐO CHIỀU DÀY LỚP MẠ - PHƯƠNG PHÁP TỪ

Electrodeposited nikel coatings on magnetic and non-magnetic substrates - Measurement of coating thickness - Magnetic method

1. Phạm vi và lĩnh vực áp dụng

Tiêu chuẩn này quy định phương pháp sử dụng dụng cụ đo bằng từ để đo không phá hủy chiều dầy lớp mạ điện niken trên chất nền từ và không từ.

Phương pháp này không áp dụng đối với các lớp mạ hóa học niken (không phải mạ điện) tùy thuộc vào thành phần hóa học của chúng.

Khi áp dụng tiêu chuẩn này cần phân biệt hai loại lớp mạ niken sau:

a) Lớp mạ niken trên chất nền từ (lớp mạ loại A);

b) Lớp mạ niken trên chất nền không từ (lớp mạ loại B).

Không được cho rằng tất cả các dụng cụ đều có thể sử dụng được cho cả hai lớp mạ này.

Phạm vi đo có hiệu quả của các dụng cụ đo dùng nguyên lý hấp dẫn từ lên tới 50 µm cho lớp mạ loại A và 25 µm cho lớp mạ loại B.

Đối với những dụng cụ dùng nguyên lý từ trở thì phạm vi đo có hiệu quả lớn hơn nhiều và các phép đo tới 1 mm hoặc hơn có thể thực hiện trên cả hai loại lớp mạ.

2. Tiêu chuẩn trích dẫn

ISO 1463, Lớp mạ kim loại và ôxit - Đo chiều dày lớp mạ. Phương pháp soi kính hiển vi.

ISO 2064, Lớp mạ kim loại và các lớp mạ vô cơ khác. Các định nghĩa và quy ước liên quan đến phép đo chiều dày.

ISO 2177, Lớp mạ kim loại. Đo chiều dày lớp mạ. Phương pháp đo điện lượng bằng phân hủy anôt.

3. Nguyên tắc

Các dụng cụ đo chiều dày của lớp mạ thuộc loại từ hoặc đo lực hấp dẫn giữa mặt nam châm vĩnh cửu và hợp chất mạ (hợp chất nền) hoặc đo từ trở của một từ thông chạy qua lớp mạ và chất nền.

4. Các yếu tố ảnh hưởng đến độ chính xác của phép đo

Những yếu tố sau đây có thể ảnh hưởng đến độ chính xác của phép đo chiều dày của lớp mạ.

4.1. Chiều dày của lớp mạ

Độ chính xác của một phép đo thay đổi theo chiều dày của lớp mạ mà chiều dày này phụ thuộc vào thiết kế của dụng cụ. Đối với lớp mạ mỏng, độ chính xác là không đổi và độc lập với độ dày của lớp mạ. Đối với lớp mạ dày, độ chính xác gần như không đổi với chiều dày.

4.2. Tính chất từ của kim loại nền (với lớp mạ loại A)

Các phép đo chiều dày bằng phương pháp từ chịu ảnh hưởng bởi sự thay đổi tính chất từ khác nhau của kim loại nền. Trong thực tế sự thay đổi tính chất từ trong thép có hàm lượng cácbon thấp có thể được bỏ qua.

4.3. Chiều dày của kim loại nền (với lớp mạ loại A)

Đối với mỗi dụng cụ đo có một chiều dày tới hạn của kim loại nền mà khi chiều dày lớn hơn nó, các phép đo sẽ không bị ảnh hưởng. Vì chiều dày phụ thuộc vào đầu dò của dụng cụ đo và bản chất của kim loại nền nên giá trị của nó cần được xác định bằng thí nghiệm, trừ khi đã được nhà sản xuất quy định.

4.4. Ảnh hưởng của cạnh

Phương pháp này rất nhạy đối với những thay đổi đột ngột trên đường viền bề mặt của mẫu thử. Vì thế các phép đo được thực hiện quá gần cạnh hoặc các góc bên trong sẽ không có giá trị trừ phi dụng cụ được chuẩn đặc biệt cho những phép đo như vậy. ảnh hưởng này có thể lên tới khoảng 20 mm từ chỗ gián đoạn, phụ thuộc vào dụng cụ.

4.5. Độ cong

Phép đo chịu ảnh hưởng của độ cong mẫu thử. ảnh hưởng độ cong thay đổi đáng kể tùy theo cấu tạo và loại dụng cụ nhưng ảnh hưởng này luôn luôn trở nên rõ rệt khi bán kính của độ cong giảm đi.

Các dụng cụ có đầu dò hai cực cũng có thể cho những kết quả khác nhau nếu hai cực thẳng hàng trên mặt phẳng song song hoặc vuông góc với trục của mặt hình trụ. Tác động tương tự cũng có thể xảy ra với đầu dò một cực nếu đầu cực bị mòn, không phẳng.

Vì thế các phép đo thực hiện trên các mẫu thử cong sẽ không có giá trị trừ phi dụng cụ đo được chuẩn đặc biệt cho những phép đo như vậy.

4.6. Độ nhám của bề mặt

Nếu phạm vi của một loạt các phép đo được thực hiện trong cùng một chuẩn (xem ISO 2064) trên một bề mặt nhám, mà về căn bản vượt quá số lần lặp lại thông thường của dụng cụ đo, thì số phép đo cần thiết phải được tăng lên đến ít nhất là năm.

4.7. Hướng gia công cơ khí của kim loại gốc (với lớp mạ loại A)

Các phép đo được thực hiện bằng dụng cụ đo có đầu dò hai cực hoặc đầu dò một cực bị mòn có thể chịu ảnh hưởng của hướng mà kim loại từ gốc được gia công cơ khí (ví dụ như cán), kết quả thay đổi theo sự định hướng của đầu dò trên bề mặt.

4.8. Hiện tượng từ dư (với lớp mạ loại A)

Hiện tượng từ dư trên kim loại gốc ảnh hưởng tới những phép đo thực hiện bởi những dụng cụ đo dùng từ trường tĩnh. ảnh hưởng của hiện tượng từ dư đối với các phép đo thực hiện bởi các dụng cụ từ trở dùng từ trường xoay chiều thì nhỏ hơn nhiều (xem 6.7).

4.9. Từ trường

Những từ trường mạnh chẳng hạn như từ trường của nhiều loại thiết bị điện khác nhau, có thể gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động của dụng cụ đo cần từ trường dừng (xem 6.7).

4.10. Tạp chất

Các đầu dò của dụng cụ phải có tiếp xúc vật lý với bề mặt thử vì những dụng cụ này rất nhạy với tạp chất cản trở sự tiếp xúc giữa đầu dò với bề mặt của lớp mạ. Mặt của đầu dò phải được kiểm tra về độ sạch.

4.11. Tính chất từ của lớp mạ

Các phép đo chịu ảnh hưởng bởi sự thay đổi tính chất từ của lớp mạ. Những tính chất này phụ thuộc vào những điều kiện diễn ra quá trình kết tủa, vào loại, thành phần của lớp mạ và điều kiện ứng suất của chúng. Việc xử lý nhiệt ở nhiệt độ 400oC trong 30 phút sẽ làm cho độ thấm từ của các lớp mạ niken đục cùng thành phần (không có lưu huỳnh hoặc gần như không có lưu huỳnh) bằng nhau. Lớp niken sáng có thể có cùng hoặc không cùng tính chất từ sau khi xử lý nhiệt. Việc xử lý nhiệt cũng có thể làm phá hủy lớp mạ. Các đặc tính về từ của lớp mạ niken nhiều lớp cũng phụ thuộc vào chiều dày tương ứng của mỗi lớp.

4.12. Lớp mạ niken trên mặt sau của chất nền (đối với loại B)

Lớp mạ niken trên mặt sau của chất nền có thể ảnh hưởng đến các phép đo phụ thuộc vào chiều dày của chất nền.

4.13. Áp lực của đầu dò

Các cực của đầu dò thử phải được sử dụng với một áp lực không đổi nhưng đủ cao sao cho không làm biến dạng lớp mạ.

4.14. Định hướng đầu dò

Số đo của dụng cụ đo sử dụng nguyên tắc hấp dẫn từ có thể chịu ảnh hưởng bởi sự định hướng của nam châm trong trọng trường trái đất. Do đó sự hoạt động của đầu dò của dụng cụ đo ở một vị trí nằm ngang hoặc lộn ngược cần một chuẩn khác nhau, hoặc có thể không thực hiện được.

5. Chuẩn dụng cụ đo

5.1. Đặc điểm chung

Trước khi sử dụng mỗi dụng cụ cần phải được chuẩn theo chỉ dẫn của nhà sản xuất bằng những chuẩn thích hợp.

Trong quá trình sử dụng, việc chuẩn dụng cụ sẽ được kiểm tra sau khi máy nóng và trong những khoảng thời gian đều đặn ít nhất là mỗi ngày một lần. Cần có sự chú ý đúng mức đến các yếu tố được kể đến trong điều 4 và quy trình quy định ở điều 6.

5.2. Các mẫu chuẩn

5.2.1. Các mẫu chuẩn là những mẫu được mạ bằng cách mạ điện niken dính chặt lên chất nền.

Độ nhám của bề mặt, các tính chất từ của chất nền và lớp mạ của các mẫu chuẩn và của mẫu thử sẽ tương tự như nhau (xem phần 4.2 và 4.11). Để đảm bảo cho các tính chất từ của các chất nền là tương tự như nhau, nên so sánh số đo thu được từ kim loại gốc của mẫu chuẩn chưa mạ và kết quả thu được từ mẫu thử chưa mạ.

Tương tự như vậy để đảm bảo sự đúng đắn của việc chuẩn dụng cụ cần dùng như mẫu chuẩn, một mẫu thử đại diện. Độ dày của mẫu này đã được xác định bằng phương pháp đo (điện lượng) (xem ISO 2177) hoặc phương pháp soi kính hiển vi (xem ISO 1463).

5.2.2. Trong một số trường hợp, sự chuẩn dụng cụ phải được kiểm tra bằng cách quay đầu dò đi một góc 90o (xem 4.7 và 4.8).

5.2.3. Đối với lớp mạ loại A, chiều dày của kim loại gốc của mẫu thử và chiều dày của mẫu chuẩn phải bằng nhau nếu chiều dày tới hạn được định nghĩa ở phần 4.3 không bị vượt quá. Sai số phụ xảy ra nếu chất nền được mạ ở cả hai mặt. Nếu chiều dày giới hạn không bị vượt quá, phủ thêm lên kim loại gốc của mẫu chuẩn hoặc mẫu thử cũng bằng kim loại đó tới một chiều dày đủ làm cho kết quả độc lập với chiều dày của kim loại gốc.

5.2.4. Nếu độ cong của lớp mạ cần đo làm cho sự chuẩn trên mặt thử nghiệm phẳng không có tác dụng thì độ cong của mẫu chuẩn phải bằng độ cong của mẫu thử.

6. Quy trình

6.1. Nguyên tắc chung

Phải sử dụng mỗi dụng cụ đo theo những chỉ dẫn của nhà sản xuất, chú ý đúng mức đến các yếu tố đã nói ở điều 4.

Cần chuẩn bị trước các việc sau:

6.2. Chiều dày của kim loại gốc (chỉ với lớp mạ loại A)

Kiểm tra xem chiều dày của kim loại gốc có vượt quá chiều dày giới hạn hay không. Nếu không vượt quá dùng phương pháp mạ thêm đã nói ở phần 5.2.3 hoặc phải đảm bảo rằng sự chuẩn phải được thực hiện trên mẫu chuẩn có cùng chiều dày và các đặc tính về từ như mẫu thử.

6.3. Ảnh hưởng của cạnh

Không được thực hiện các phép đo gần một điểm gián đoạn chẳng hạn như cạnh, lỗ, góc trong của mẫu thử, trừ khi giá trị của sự chuẩn cho những phép đo như vậy đã được chứng minh.

6.4. Độ cong

Không được thực hiện các phép đo trên một mặt cong của mẫu thử, trừ khi giá trị của việc chuẩn những phép đo như vậy đã được chứng minh.

6.5. Số lần đo

Do tính hay biến đổi của dụng cụ đo thông thường, cần lấy một số số đo ở mỗi vị trí trên mỗi khu vực đo (xem cả ISO 2064). Sự biến đổi cục bộ chiều dày của lớp mạ cũng có thể đòi hỏi phải tiến hành một số phép đo trên khu vực có liên quan. Điều này đặc biệt nên áp dụng nếu bề mặt nhám.

Các dụng cụ đo thuộc loại dùng lực hấp dẫn rất nhạy với độ rung nên những kết quả nào quá cao cần được loại bỏ.

6.6. Phương gia công cơ khí (chỉ với lớp mạ loại A)

Nếu phương gia công cơ khí có một ảnh hưởng rõ rệt đến kết quả thì các phép đo phải được tiến hành bằng đầu dò có cùng phương với phương sử dụng trong quá trình chuẩn. Nếu không thực hiện được việc đó phải tiến hành 4 phép đo trên cùng một phạm vi đo bằng cách quay đầu dò một góc 90o.

6.7. Hiện tượng từ dư

Nếu hiện tượng từ dư xuất hiện ở kim loại gốc, cần tiến hành các phép đo theo hai hướng lệch nhau 180o trong trường hợp dùng dụng cụ đo hai cực có từ trường dừng.

Có thể cần khử từ ở mẫu thử nghiệm để đạt được kết quả chắc chắn.

6.8. Làm sạch bề mặt thử nghiệm

Trước khi tiến hành đo, làm sạch các tạp chất như bụi, dầu mỡ, các chất ăn mòn trên bề mặt mà không làm mất nguyên liệu mạ.

Khi tiến hành đo, tránh những khu vực có khuyết tật nhìn thấy khó loại trừ như các chỗ hàn, gắn, các vết axit, cặn bẩn hoặc ôxit.

6.9. Kỹ thuật đo

Kết quả thu được phụ thuộc vào kỹ thuật của người sử dụng dụng cụ. Chẳng hạn, áp lực tác dụng lên đầu dò hoặc tốc độ tác dụng lực cân bằng nam châm, đối với những người khác nhau thì khác nhau. Có thể giảm nhẹ hoặc giảm đến mức tối đa những ảnh hưởng ấy bằng cách dùng cùng một người để chuẩn dụng cụ đo và tiến hành phép đo hoặc bằng cách sử dụng đầu dò áp lực không đổi.

6.10. Đặt đầu dò

Nhìn chung đầu dò của dụng cụ đo phải được đặt vuông góc với bề mặt thử ở điểm đo. Đối với một số dụng cụ thuộc loại dùng lực hấp dẫn điều này là đặc biệt quan trọng. Song với một số dụng cụ đo thì nếu đặt đầu dò hơi nghiêng và chọn góc nghiêng nào cho số đo nhỏ nhất. Nếu trên một mặt phẳng nhẵn, kết quả thu được thay đổi theo góc nghiêng thì có thể là đầu dò đã bị mòn và cần được thay thế.

Nếu dùng dụng cụ đo thuộc loại dùng lực hấp dẫn được sử dụng ở một vị trí nằm ngang hay lộn ngược thì dụng cụ này cần phải được chuẩn cho riêng vị trí đó nếu hệ đo không được đỡ ở trọng tâm.

7. Yêu cầu về độ chính xác

Việc chuẩn và vận hành dụng cụ đo phải được thực hiện sao cho chiều dày của lớp mạ có thể được xác định trong phạm vi sai lệch 10 % so với chiều dày thật của nó hay sai lệch 1,5 µm tùy theo mức nào lớn hơn (xem điều 5). Phương pháp này có khả năng cho độ chính xác tốt hơn.

 

Văn bản liên quan nội dung
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5877:1995 (ISO 2361:1982 )về Lớp mạ điện niken trên chất nền từ và không từ - Đo chiều dày lớp mạ - Phương pháp từ

Số hiệu: TCVN5877:1995
Loại văn bản: Tiêu chuẩn Việt Nam
Ngày ban hành: 01/01/1995
Nơi ban hành: Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường
Người ký: ***
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Công nghiệp
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5877:1995 (ISO 2361:...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký