Giới thiệu chung về Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1796:1993
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 1796:1993 về Đay tơ - Phương pháp thử do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường ban hành. Đây là văn bản kỹ thuật chuyên ngành quan trọng, quy định các nguyên tắc, quy trình và phương pháp thử nghiệm nhằm xác định các chỉ tiêu chất lượng lý - hóa của đay tơ. Tiêu chuẩn này đóng vai trò làm căn cứ pháp lý và kỹ thuật cho việc đánh giá chất lượng sản phẩm, phục vụ công tác giao nhận, thương mại trong nước và xuất khẩu.
Nội dung chi tiết Phần mở đầu và các Điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
Điều 1: Phạm vi áp dụng
Điều khoản này xác định giới hạn và đối tượng điều chỉnh trực tiếp của tiêu chuẩn:
- Tiêu chuẩn áp dụng đối với sản phẩm đay tơ (đay nguyên liệu đã qua quá trình sơ chế tách sợi).
- Quy định các phương pháp thử nghiệm cơ lý và hóa lý để xác định các đặc tính chất lượng của đay tơ thương phẩm.
- Đối tượng áp dụng bao gồm các cơ quan kiểm định chất lượng, các doanh nghiệp sản xuất, chế biến, kinh doanh và xuất nhập khẩu đay tơ tại Việt Nam.
Điều 2: Quy định chung và tài liệu viện dẫn
Điều khoản này thiết lập các nguyên tắc nền tảng khi thực hiện các phép thử:
- Các phép thử phải được tiến hành bởi kiểm nghiệm viên có năng lực chuyên môn phù hợp và trong điều kiện phòng thí nghiệm đạt chuẩn.
- Mọi thiết bị, dụng cụ đo lường sử dụng trong quá trình thử nghiệm phải được hiệu chuẩn, kiểm định định kỳ và còn hiệu lực theo quy định của pháp luật về đo lường.
- Khi áp dụng tiêu chuẩn này, cần tham chiếu và phối hợp đồng bộ với các tiêu chuẩn quốc gia liên quan về xơ sợi dệt để đảm bảo tính thống nhất của kết quả đo lường.
Điều 3: Phương pháp lấy mẫu (Quy trình lấy mẫu đại diện)
Để đảm bảo kết quả thử nghiệm phản ánh chính xác và khách quan chất lượng của toàn bộ lô hàng, quy trình lấy mẫu được quy định rất chặt chẽ:
- Khái niệm lô hàng: Lô hàng đay tơ đưa ra kiểm tra phải đồng nhất về chủng loại, thứ hạng chất lượng và được bao gói theo cùng một quy cách.
- Tỷ lệ lấy mẫu: Quy định cụ thể số lượng kiện đay cần chọn ngẫu nhiên từ lô hàng để tiến hành mở kiện lấy mẫu, đảm bảo tính đại diện thống kê.
- Phương pháp lấy mẫu ban đầu: Hướng dẫn chi tiết cách rút các bó đay từ các vị trí khác nhau trong kiện (phần trên, phần giữa và phần dưới) nhằm tránh sai số hệ thống do phân bố không đều.
- Chuẩn bị mẫu phòng thí nghiệm: Quy trình phối trộn, phân chia và rút gọn các mẫu ban đầu để tạo thành mẫu thử nghiệm cuối cùng có khối lượng và số lượng đủ theo yêu cầu của từng phép thử cụ thể.
Điều 4: Điều kiện chuẩn bị và môi trường thử nghiệm
Do đay tơ là vật liệu có tính hút ẩm cao, các tính chất cơ lý (như độ bền kéo đứt, độ ẩm thực tế) phụ thuộc rất lớn vào điều kiện môi trường xung quanh. Vì vậy, tiêu chuẩn quy định:
- Môi trường khí hậu chuẩn: Quy định cụ thể về nhiệt độ và độ ẩm tương đối của phòng thí nghiệm nơi tiến hành phân tích và thử nghiệm mẫu đay.
- Thời gian hồi ẩm (điều hòa mẫu): Mẫu đay tơ sau khi chuẩn bị phải được giữ trong môi trường khí hậu chuẩn trong một khoảng thời gian quy định để đạt trạng thái cân bằng ẩm trước khi tiến hành các phép đo.
- Yêu cầu kỹ thuật đối với thiết bị đo: Các thiết bị như cân phân tích, máy đo độ bền kéo, tủ sấy mẫu phải đáp ứng các chỉ tiêu kỹ thuật về độ nhạy, dải đo và sai số cho phép.
Ý nghĩa thực tiễn của các quy định đầu tiên
Các quy định từ Điều 1 đến Điều 4 của TCVN 1796:1993 tạo ra một quy trình chuẩn hóa đồng bộ ngay từ khâu xác định phạm vi, lấy mẫu cho đến chuẩn bị môi trường thử nghiệm. Việc tuân thủ nghiêm ngặt các bước này là điều kiện bắt buộc để loại bỏ các sai số khách quan, đảm bảo kết quả thử nghiệm cuối cùng có độ tin cậy cao, làm cơ sở giải quyết các tranh chấp thương mại và nâng cao chất lượng đay tơ Việt Nam.
LỜI NÓI ĐẦU
TCVN 1796-1993 thay thế TCVN 1796-86
TCVN 1796-1993 do Ban Kỹ thuật Nông sản biên soạn, Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng đề nghị và được Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường ban hành theo Quyết định số: 488/QĐ ngày 22 tháng 9 năm 1993.
ĐAY TƠ
PHƯƠNG PHÁP THỬ
Jute fibres
Method of test
1.1. Lô hàng là một lượng đay tơ bấy kỳ đồng đều về phẩm chất và được thu hoạch cùng một vụ và giao nhận cùng một lúc.
1.2. Vị trí lấy mẫu
Những kiện chỉ định lấy mẫu phải được phân bố đồng đều trong một lô hàng theo các vị trí sát trên, sát dưới đáy, phía cạnh và giữa lô hàng để thích hợp với các điều kiện cụ thể của lô hàng.
Số lượng kiện chỉ định lấy mẫu quy định như trong bảng 1
Bảng 1
Số kiện trong lô | Số kiện lấy mẫu |
Từ 1 đến 4 kiện | Lấy tất cả các kiện |
Từ 5 - 100 kiện | Lấy 5 kiện |
Trên 100 kiện | Lấy 5 % số kiện |
1.3. Tại mỗi kiện: lấy 3 con đay (mỗi con khoảng 1kg) nằm các vị trí: trên, giữa và dưới kiện.
1.4. Gộp chung các con đay lấy mẫu lại rồi chia đôi từng con đay cho đến hết, rồi đem trộn đều số con đay chia đôi.
1.5. Lại chia đôi từng con đay nhỏ đã chia đôi trên cho đến hết, đem trộn đều rồi lấy khoảng 20 nắm đay nhỏ.
Số nắm đay này chính là mẫu trung bình của lô hàng.
1.6. Phân đôi mẫu trung bình: một phần để lưu, một phần để phân tích.
Mẫu được đặt trong túi polyetylen hoặc gói trong giấy chống ẩm buộc kín trong có nhãn ghi:
- Tên sản phẩm;
- Tên đơn vị có lô hàng;
- Hạng chất lượng;
- Số kiện và khối lượng tịnh lô hàng;
- Ngày và tên người lấy mẫu;
- Khối lượng mẫu.
1.7. Mẫu lưu do cơ quan lấy mẫu giữ và được bảo quản trong thời gian 6 tháng.
Từ mẫu phân tích (1.6) lấy 1/3 số mẫu để xác định ngay độ ẩm và tạp chất, 2/3 lượng mẫu còn lại dùng để xác định màu sắc, độ tơi, óng, độ dài, độ bền, các khuyết tật và được chuẩn bị như sau:
Tãi từng nắm đay nhỏ của mẫu lên các thanh ngang cách mặt đất 1,5 m, không để gốc ngọn lẫn lộn, dùng tay trộn đều các sợi đay theo chiều thanh ngang.
3. Xác định màu sắc, độ óng, độ tơi mềm, độ dài và các khuyết tật
3.1. Dụng cụ
- Cân kỹ thuật chính xác 0,1 g;
- Bàn cao từ 70-80 cm, 1,50 x 0,8m, mặt bàn màu trắng
- Đèn chiếu
- Kính lúp có độ phóng đại gấp 5 lần
- Thước dài 2 m có độ chính xác đến 1 cm.
3.2. Tiến hành thử
Cân khoảng 200g mẫu, trải lên mặt bàn đã được chiếu sáng theo chiều dọc; quan sát toàn bộ chiều dài sợi đay, nhận xét màu sắc, độ óng; dùng kính lúp soi kỹ các đốm đen, xơ sợi, vết mốc, dính bết; lấy tay vê các sợi đay để xác định mức độ tơi mềm; đo chiều dài mẫu từ chỗ tập trung đa số sợi gốc và ngọn (không tính phần rễ đay) và đo chính xác đến 1 cm. Làm 5 lần đo, kết quả cuối cùng là trung bình của 5 lần đo. Các kết quả đo không được lệch quá 5 % của kết quả trung bình - Số đo được ghi đến 1 cm.
4.1. Chuẩn bị thử
Chọn người có trình độ thử cảm quan kéo đứt có kinh nghiệm
4.2. Lấy một ít sợi đay tơ quấn vào 2 ngón trỏ với khoảng cách giữa 2 ngón tay trỏ từ 5-7 cm.
Hai đầu ngón tay cái kẹp chặt tơ đay vào giữa ngón cái và ngón trỏ: Dùng sức kéo của hai tay kéo căng sợi đay cho đến dứt. Ước lượng sức đã dùng để kéo đứt, chú ý nghe tiếng phát ra khi đay đứt xem có ròn hay bục và nhận xét chỗ đứt so le hay bằng.
Kiểm tra độ bền suốt chiều dài của mẫu thử. Nhận xét kết quả:
- Đay bền tốt: kho đứt, khi đứt bật ra tiếng ròn, vết đứt so le.
- Đay kém bền: dễ đứt, vết đứt phẳng.
5.1. Dụng cụ
- Cân kỹ thuật chính xác đến 0,1g
- bèn có mặt phẳng nhẵn và trắng
- giấy trắng dầy
- kẹp kim loại
5.2. Tiến hành thử
Tạp chất là những vật chất không phải là sợi đay bao gồm: vỏ bẹ, lõi đay, cành, lá cây, cỏ dại, đất, cát.
Cân khoảng 100g đay (chính xác đến 0,1g) đặt lên bàn đã trải giấy trắng dầy, dùng tay hoặc kẹp nhặt sạch tạp chất có trong mẫu thử.
Sau đó đem cân tạp chất và tính kết quả.
5.3. Tính kết quả
Tạp chất (X) được tính bằng % khối lượng theo công thức:
trong đó:
m1 - khối lượng tạp chất tính bằng g;
m - khối lượng mẫu tính bằng g.
Làm hai thí nghiệm song song. Chênh lệch hai kết quả thí nghiệm không được quá 15 %.
Kết quả cuối cùng là số trung bình của hai kết quả trên. Tính chính xác đến 0,1 %.
6.1. Nguyên tắc
Dựa trên nguyên tắc dùng tủ sấy ở 1050-1000C để tách thành phần nước chứa trong đay sợi, độ ẩm thực tế bằng % giữa khối lượng nước có trong sợi đay và khối lượng khô tuyệt đối của đay.
6.2. Dụng cụ, thiết bị
- Tủ sấy có cân hoặc tủ sấy thường có nhiệt độ khống chế được từ 105-1100C;
- Cân trong tủ sấy chính xác đến 0,05g hoặc cân phân tích có độ chính xác đến 0,001g;
- Bình hút ẩm (chất hút ẩm là canxi clorua hoặc axit sunfuric đậm đặc)
- Cốc cân;
- Bao hoặc hộp giữa mẫu để chống thoát ẩm.
6.3. Chuẩn bị thử
- Trường hợp dùng tủ sấy có cân: cân mẫu thử trên cân phân tích với độ chính xác đến 0,05g từ 100-200g; Kiểm tra nhiệt độ của tủ sấy được dựa trên 1000 và xem lại hoạt động của cân (thử 1 lần);
- Trường hợp dùng tủ sấy thường:
Sấy cốc cân ở nhiệt độ 105-1100C đến khi thật khô, để nguội trong bình hút ẩm rồi cân khoảng 8-10g mẫu với độ chính xác 0,001g. Cho mẫu thử vào cốc cân, tiến hành xác định độ ẩm trên 2 mẫu.
6.4. Tiến hành thử
a) Trường hợp dùng tủ sấy có cân: Dùng kẹp làm tơi mẫu rồi đặt vào giỏ sấy, tiến hành sấy ở 1050 - 1100C.
Sau khi sấy 1 giờ, tắt máy xác định khối lượng mẫu thử với độ chính xác 0,05g.
Cứ 15 phút sau đó lại cân thử 1 lần, quá trình sấy được kết thúc nếu giữa 2 lần cân liên tiếp không lệch nhau quá 0,1g.
b) Trường hợp dùng tủ sấy thường: Đặt cốc cân có mẫu thử vào giàn sấy, mở nắp cốc cân, tiến hành sấy ở nhiệt độ 105-1100C.
Sau 2 giờ, đậy nắp cốc cân, đặt cốc cân vào bình hút ẩm ít nhất 10 phút rồi cân nhanh trên cân phân tích với độ chính xác đến 0,001g.
Trước khi cân cần mở nắp cốc cân rồi đậy lại ngay để cân bằng áp suất không khí giữa trong và ngoài cốc.
Tiếp tục sấy, sau ít nhất 20 phút cân lại một lần - Khi kết quả 2 lần cân liên tiếp không lệch nhau quá 0,005g thì quá trình sấy kết thúc.
6.5. Tính kết quả
Độ ẩm của mẫu thử W tính bằng % theo công thức
trong đó:
m2 - khối lượng mẫu trước khi sấy, tính bằng g;
m3 - khối lượng mẫu sau khi sấy, tính bằng g.
Trường hợp dùng tủ sấy thường, tính toán độ ẩm riêng cho từng mẫu - Kết quả cuối cùng là trung bình cộng kết quả hai lần thử.
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.
Danh sách văn bản liên quan đang được cập nhật.