Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Giới thiệu chung về Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6381:1998

Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6381:1998 hoàn toàn tương đương với tiêu chuẩn quốc tế ISO 3297:1986 về Tư liệu - Mã số tiêu chuẩn quốc tế cho xuất bản phẩm nhiều kỳ (ISSN). Tiêu chuẩn này thiết lập các quy tắc thống nhất nhằm định danh các xuất bản phẩm nhiều kỳ thông qua một mã số tiêu chuẩn duy nhất, hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý, lưu trữ, trao đổi thông tin thư viện và hoạt động xuất bản trên phạm vi toàn cầu.

Điều 1: Phạm vi áp dụng

Điều khoản này xác định rõ giới hạn và đối tượng điều chỉnh của tiêu chuẩn:

  • Tiêu chuẩn áp dụng đối với tất cả các xuất bản phẩm nhiều kỳ, không phân biệt ngôn ngữ, quốc gia xuất bản hay phương thức phát hành.
  • Đối tượng áp dụng bao gồm các loại hình ấn phẩm định kỳ truyền thống như báo, tạp chí, niên giám, bản tin, kỷ yếu của các hội nghị/hội thảo thường kỳ, báo cáo thường niên, và các bộ sách xuất bản nhiều kỳ.
  • Tiêu chuẩn cũng mở rộng phạm vi áp dụng cho các xuất bản phẩm nhiều kỳ được thể hiện dưới các định dạng phi in ấn như bản điện tử, vi phim, đĩa CD-ROM hoặc các phương tiện truyền thông số khác.

Điều 2: Thuật ngữ và định nghĩa

Tiêu chuẩn đưa ra các định nghĩa cơ bản để thống nhất cách hiểu và áp dụng:

  • Xuất bản phẩm nhiều kỳ (Serial): Là tài liệu được xuất bản thành nhiều phần nối tiếp nhau, thường có thứ tự số hoặc niên giám, dự kiến sẽ kéo dài vô hạn.
  • Tên chính thức (Key Title): Là tên gọi duy nhất được gán cho một xuất bản phẩm nhiều kỳ bởi cơ quan quản lý ISSN có thẩm quyền, gắn liền với mã số ISSN của xuất bản phẩm đó để phân biệt với các ấn phẩm khác có tên tương tự.
  • Mã số ISSN (International Standard Serial Number): Là mã số tiêu chuẩn quốc tế gồm 8 chữ số dùng để định danh duy nhất cho một xuất bản phẩm nhiều kỳ cụ thể.

Điều 3: Cấu trúc và cách trình bày mã số ISSN

Quy định chi tiết về mặt kỹ thuật đối với cấu trúc của mã số ISSN:

  • Mã số ISSN bao gồm 8 chữ số, được chia thành hai nhóm, mỗi nhóm gồm 4 chữ số và được ngăn cách với nhau bằng một dấu gạch nối (-). Ví dụ: ISSN 1234-5679.
  • Chữ số cuối cùng (chữ số thứ 8) đóng vai trò là chữ số kiểm tra (check digit), được tính toán theo thuật toán modulo 11 để phát hiện sai sót trong quá trình nhập liệu. Chữ số kiểm tra này có thể là một số từ 0 đến 9 hoặc là chữ cái "X" (đại diện cho giá trị 10).
  • Khi trình bày trên xuất bản phẩm, mã số ISSN phải luôn được đi kèm với tiền tố "ISSN" phía trước và có khoảng trắng ngăn cách giữa tiền tố và dãy số. Vị trí trình bày thông thường là ở góc trên bên phải của trang bìa hoặc trang tên sách.

Điều 4: Nguyên tắc cấp và quản lý mã số ISSN

Quy định về mặt tổ chức và nguyên tắc vận hành hệ thống ISSN:

  • Mã số ISSN được cấp bởi hệ thống các Trung tâm ISSN quốc gia dưới sự điều phối và giám sát chung của Trung tâm ISSN quốc tế.
  • Mỗi mã số ISSN chỉ được cấp duy nhất cho một tên chính thức (key title) của xuất bản phẩm nhiều kỳ. Khi xuất bản phẩm có sự thay đổi lớn về tên gọi chính thức, bắt buộc phải đăng ký và cấp một mã số ISSN mới để tránh nhầm lẫn.
  • Mã số ISSN thuần túy là một công cụ định danh kỹ thuật phục vụ cho công tác quản lý thông tin, không có giá trị pháp lý về mặt bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, bản quyền tác giả hay nội dung của xuất bản phẩm.

TIÊU CHUẨN VIỆT NAM

TCVN 6381 : 1998

ISO 3297 : 1986

TƯ LIỆU, MÃ SỐ TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ CHO XUẤT BẢN PHẨM NHIỀU KỲ (ISSN)

Documentation - International standard serial numbering (ISSN)

Mở đầu

Đã từ lâu người ta nhận thấy rằng cần có một mã ngắn gọn, đơn nhất, đơn nghĩa để nhận biết các xuất bản phẩm nhiều kỳ.

Sự trao đổi thông tin giữa các hệ thống máy tính của các cơ quan khác nhau như người sử dụng (thư viện, các dịch vụ làm tóm tắt và những người sử dụng khác), người cung cấp hoặc người phân phối và các nhà xuất bản và sản xuất yêu cầu cần phải có một mã chuẩn.

Sự giao tiếp giũa những tổ chức khác nhau vượt ra ngoài biên giới quốc gia và do đó đòi hỏi một mã quốc tế mà mã này phải là mã dạng số vì không có một bảng chữ cái riêng biệt nào được đa số các nhà sản xuất và sử dụng xuất bản phẩm nhiều kỳ áp dụng.

Mã số tiêu chuẩn quốc tế cho xuất bản phẩm nhiều kỳ (ISSN) không mang một ý nghĩa nào khác ngoài việc phân định một cách đơn nhất tên xuất bản phẩm. Nó không phản ánh các đặc trưng của tên gọi được phân định.

ISSN 1) được áp dụng cho tất cả các số của xuất bản phẩm nhiều kỳ, bao gồm đã, đang và sẽ  xuất bản trong tương lai.

Để thỏa mãn các yêu cầu khác nữa, mã số ISSN có thể đi kèm với các mã liên quan, chẳng hạn để phân biệt nước xuất bản hoặc các đơn vị nhỏ hơn của xuất bản phẩm nhiều kỳ như tập và phần.

Cần có một tổ chức quốc tế để thực hiện mã số ISSN. Hệ thống dữ liệu xuất bản phẩm nhiều kỳ quốc tế (ISDS), một tổ chức liên chính phủ được thành lập trong khuôn khổ chương trình UNESCO/UNISIST, là cơ quan được chỉ định để kiểm soát việc cấp mã số ISSN.

ISDS là một mạng lưới của các trung tâm quốc gia và vùng, do một trung tâm quốc tế điều phối. Các trung tâm quốc gia chịu trách nhiệm đăng ký xuất bản phẩm nhiều kỳ trong nước mình và một số trung tâm quốc gia có thể quyết định cùng thành lập một trung tâm vùng, do các lý do kinh tế, địa lý hoặc ngôn ngữ.

Nếu không có các trung tâm quốc gia hoặc vùng có thẩm quyền, trung tâm quốc tế sẽ tiến hành đăng ký và cấp mã số ISSN. Trung tâm quốc tế cũng có trách nhiệm trong việc cấp một lượng mã số ISSN cho các trung tâm quốc gia và vùng trong việc điều phối mọi hoạt động trong khuôn khổ mạng lưới và trong việc xuất bản danh mục mã số ISSN quốc tế 2).

 

TƯ LIỆU- MÃ SỐ TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ CHO XUẤT BẢN PHẨM NHIỀU KỲ* (ISSN)

Documentation - International standard serial numbering (ISSN)

1. Phạm vi và lĩnh vực áp dụng

Mục đích của tiêu chuẩn này là quy định và khuyến khích việc sử dụng mã chuẩn (ISSN) để nhận biết một cách đơn nhất các xuất bản phẩm nhiều kỳ.

2. Tiêu chuẩn trích dẫn

ISO 2709 Tư liệu – Thể thức cho trao đổi thông tin thư mục trên băng từ.

3. Định nghĩa

Các định nghĩa sau đây được áp dụng trong tiêu chuẩn này.

3.1. Mã số tiêu chuẩn quốc tế cho xuất bản phẩm nhiều kỳ (ISSN): dãy số gồm tám chữ số kể cả chữ số kiểm tra và được đặt sau tiền tố ISSN.

3.2. Tên khóa: tên đơn nhất do hệ thống dữ liệu xuất bản phẩm nhiều kỳ ISDS (International Serials Data System) cấp cho một xuất bản phẩm nhiều kỳ và gắn liền với mã số ISSN của nó.

3.3. Xuất bản phẩm nhiều kỳ: xuất bản phẩm, dưới dạng bản in hoặc không phải bản in, được phát hành thành những phần kế tiếp nhau thường được đánh bằng số hoặc theo thứ tự thời gian và được dự định xuất bản kéo dài trong một khoảng thời gian không xác định.

Các xuất bản phẩm nhiều kỳ bao gồm các xuất bản phẩm định kỳ, báo, xuất bản phẩm hàng năm (báo cáo, niêm giám, danh bạ. v…v…), các tạp chí, hồi ký, văn kiện hội nghị, kỷ yếu ..v.v.. của các hội và các bộ sách chuyên khảo (tùng thư).

Chú thích – Định nghĩa này không bao gồm các xuất bản phẩm được xuất bản thành từng phần trong một khoảng thời gian giới hạn được ấn định trước.

4. Cấu trúc của mã số ISSN

Mã số ISSN bao gồm tám chữ số là các số Arập từ 0 đến 9, trừ số cuối cùng hay số kiểm tra đôi khi có thể là X. Vì mã số ISSN thường giống như các mã dùng cho các mục đích khác nhau, chẳng hạn mã số tiêu chuẩn quốc tế cho sách (ISBN) hay các số kiểm soát vị trí nên cần có dấu hiệu đặc biệt khi trình bày chúng dưới dạng viết hoặc in. Vì vậy mã số ISSN phải đặt sau tiền tố ISSN và được thể hiện thành hai nhóm, mỗi nhóm gồm bốn số, được tách biệt với nhau bằng một gạch ngang như ví dụ dưới đây:

ISSN 1234 – 5679

Số kiểm tra bao giờ cũng đứng ở vị trí cuối cùng bên phải và được tính trên cơ sở môđun 11 với trọng số từ 8 đến 2, dùng X thay thế cho 10 khi số kiểm tra bằng 10.

Mã số ISSN được trung tâm quốc tế ISDS thiết kế và phân phối.

5. Bản quyền

Không phải trả phí cho việc cấp mã số ISSN cho các xuất bản phẩm nhiều kỳ. Không tồn tại bản quyền trong việc cấp mã số ISSN hoặc trong việc sử dụng chúng.

6. In trên xuất bản phẩm nhiều kỳ

Mã số ISSN phải được in ở vị trí nổi bật, dễ thấy trên hoặc trong từng số xuất bản phẩm nhiều kỳ (bìa trước, bìa sau, trang tít hoặc trang cuối). Trên một xuất bản phẩm định kỳ, mã số ISSN, khi có thể, phải được in ở góc phía trên bên phải của bìa trước. Mã số ISSN cũng là một phần của mô tả thư mục trong xuất bản phẩm nhiều kỳ. Nếu một xuất bản phẩm nhiều kỳ có cả mã số ISBN cũng như mã số ISSN (chẳng hạn, một tập của một bộ sách chuyên khảo, hay niên giám), cả hai số phải cùng được in, mỗi số có tiền tố ISBN hoặc ISSN riêng của mình.

Nếu dùng từ hai mã số ISSN trở lên để nhận biết các tên gọi xuất bản phẩm nhiều kỳ khác nhau, chẳng hạn tên của bộ xuất bản phẩm nhiều kỳ chính hoặc tên các phân bộ của nó, mỗi một mã số ISSN phải được in trên xuất bản phẩm và phải được phân biệt bằng cách thêm tên đầy đủ hay tên viết tắt trong ngoặc đơn sau số tương ứng, hoặc in mã số ISSN càng gần càng tốt với các tên tương ứng. Khi xuất bản phẩm chứa một xuất bản phẩm nhiều kỳ khác như phần bổ sung hay phụ trương với trang tít riêng, mã số ISSN của phần bổ sung hay phụ trương đó phải được in trên trang tít đó hoặc một chỗ khác thích hợp trong phần bổ sung hay phụ trương.

7. Quan hệ giữa mã số ISSN và xuất bản phẩm nhiều kỳ

7.1. Chỉ cấp một mã số ISSN cho một tên gọi xuất bản phẩm. Mã số ISSN này gắn với tên khóa được thiết lập bởi hệ thống ISDS tại thời điểm đăng ký.

7.2. Khi tên của xuất bản phẩm nhiều kỳ thay đổi, phải cấp mã số ISSN mới và tên khóa mới.

7.3. Khi một xuất bản phẩm nhiều kỳ riêng biệt tồn tại bên trong một xuất bản phẩm nhiều kỳ khác, thì mỗi xuất bản phẩm nhiều kỳ sẽ có mã số ISSN và tên khóa riêng của mình.

7.4. Khi đã cấp, mã số ISSN không được cấp lại. Nếu cần hủy bỏ một mã số ISSN, mã số ISSN đó mãi mãi bị loại bỏ.

8. Tên khóa

Tên khóa được trung tâm có trách nhiệm đăng ký xuất bản phẩm nhiều kỳ lập ra, phù hợp với quy tắc ghi trong sổ tay của hệ thống ISDS1). Tên khóa bắt nguồn từ thông tin về tên gọi xuất bản phẩm nhiều kỳ tại thời điểm đăng ký.

Tất cả các tên khóa đều được liệt kê trong danh mục của hệ thống ISDS cùng với mã số ISSN của chúng. Các tên khóa không phải là chữ latinh được latinh hóa theo các tiêu chuẩn quốc tế ISO.

9. Các yếu tố dữ liệu ISDS

Các tệp dữ liệu ISDS, tại các trung tâm quốc tế và quốc gia, đều có chứa một tập hợp các yếu tố dữ liệu chung, đủ để nhận biết xuất bản phẩm nhiều kỳ. Toàn bộ các đặc trưng của các yếu tố dữ liệu được ghi trong sổ tay của hệ thống ISDS.

Danh mục các yếu tố dữ liệu có thể được tăng thêm do bổ sung các lĩnh vực nếu các quốc gia thấy cần thiết.

Nhằm trao đổi dữ liệu về xuất bản phẩm nhiều kỳ giữa các trung tâm, hệ thống ISDS sử dụng khổ (format) tiêu chuẩn quốc tế quy định trong ISO 2709.

 

PHỤ LỤC A

DANH MỤC CÁC YẾU TỐ DỮ LIỆU ISDS
(Phụ lục này không phải là một phần của tiêu chuẩn)

Các tệp dữ liệu ISDS, tại các trung tâm quốc tế và quốc gia, có chứa một bộ các yếu tố dữ liệu chung được liệt kê trong danh mục dưới đây:

1. ISSN;

2. Tên khóa;

3. Nước xuất bản;

4. Các dữ liệu xuất bản;

5. Tên khóa viết tắt;

6. Tên biến thể;

7. Tên đầy đủ;

8. Tình trạng của xuất bản phẩm (vừa xuất bản, ngắt quãng, không rõ);

9. Ngày bắt đầu;

10. Ngày kết thúc;

11. Định kỳ;

12. Loại xuất bản phẩm;

13. Ngôn ngữ của xuất bản phẩm;

14. Ngôn ngữ gốc;

15. Ký hiệu phân loại thập phân bách khoa hoặc;

16. Ký hiệu phân loại thập phân Dewey;

17. Mã trung tâm ISDS;

18. Tên của (các) cơ quan phát hành ghi trên tác phẩm;

19. Tên của (các) cơ quan phát hành thể hiện dưới hình thức được chấp nhận trong thực tiễn làm biên mục quốc gia;

20. Dấu coden và các mã khác;

21. Đã được cơ quan tóm tắt và đánh chỉ số nào xử lý?

22. Là lần xuất bản bằng ngôn ngữ khác của;

23. Có các lần xuất bản bằng ngôn ngữ khác;

24. (Các) tên gọi trước đây;

25. Tên gọi tiếp sau;

26. Là phụ trương hay bổ sung cho;

27. Có (các) phụ trương hay (các) bổ sung;

28. Là phân bộ của;

29. Có phân bộ;

30. (Các) tên gọi liên quan.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] ISO 4 Tư liệu – Quy tắc viết tắt các từ của tên gọi và tên gọi của xuất bản phẩm.

[2] ISO 8 Tư liệu – Trình bày các xuất bản phẩm định kỳ.

[3] ISO/R30 Dải thư mục (Bibliographical strip).



1) Mã số "ISSN" viết tắt sẽ được áp dụng để biểu thị các dạng đơn hay số nhiều, theo nội dung.

2) Sổ sách của ISDS có ở Trung tâm quốc tế ISDS, 20 rue Bachaumont, 75002 Paris, France.

1) Sổ tay của ISDS có ở Trung tâm quốc tế ISDS, 20 Bue Bachaumont, 75002. Paris, France.

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6381:1998 (ISO 3297 : 1986) về Tư liệu - Mã số tiêu chuẩn quốc tế cho xuất bản phẩm nhiều kỳ (ISSN)

Số hiệu: TCVN6381:1998
Loại văn bản: Tiêu chuẩn Việt Nam
Ngày ban hành: 01/01/1998
Nơi ban hành: ***
Người ký: ***
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Tình trạng: Ngưng hiệu lực
Lĩnh vực: Lĩnh vực khác
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 6381:1998 (ISO 3297...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký