Ngày 14 tháng 05 năm 2003, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số 06/2003/CT-NHNN về việc tăng cường công tác chỉ đạo, giám sát thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân. Chỉ thị này được ban hành nhằm mục đích đẩy nhanh tiến độ xử lý, giải quyết dứt điểm các tồn tại tài chính và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền tại các Quỹ tín dụng nhân dân đang trong quá trình giải thể, thanh lý.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Chỉ thị áp dụng trực tiếp đối với Ngân hàng Nhà nước chi nhánh các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương, các Quỹ tín dụng nhân dân khu vực và toàn bộ các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở thuộc diện thanh lý, giải thể trên phạm vi cả nước.
Tăng cường vai trò chỉ đạo và giám sát của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố
Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố chịu trách nhiệm chính trong việc đôn đốc và giám sát toàn bộ quá trình thanh lý tại địa phương với các nhiệm vụ trọng tâm sau:
- Trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra và giám sát chặt chẽ hoạt động của Hội đồng thanh lý hoặc Ban thanh lý tại các Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở bị giải thể, đảm bảo quá trình này được thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Yêu cầu các Quỹ tín dụng nhân dân đang thanh lý phải khẩn trương xây dựng phương án thanh lý chi tiết, xác định rõ lộ trình thu hồi nợ và phương án chi trả tiền gửi cho khách hàng một cách công bằng, minh bạch.
- Chủ động phân loại các khoản nợ, áp dụng các biện pháp kiên quyết để thu hồi nợ đọng, đặc biệt là các khoản nợ của cán bộ, nhân viên và những người có liên quan đến Ban quản trị, Ban kiểm soát cũ của Quỹ.
- Kịp thời phát hiện các sai phạm trong quá trình thanh lý để xử lý nghiêm theo thẩm quyền hoặc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra nếu có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự.
Trách nhiệm của Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương
Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương có vai trò hỗ trợ và phối hợp chặt chẽ trong quá trình thanh lý hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở:
- Phối hợp với Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố để đối chiếu, xử lý dứt điểm các khoản nợ liên quan đến vốn điều hòa và các cam kết tài chính giữa Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương với Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đang thanh lý.
- Hỗ trợ về mặt nhân sự, kỹ thuật nghiệp vụ hoặc đề xuất các giải pháp tài chính phù hợp nhằm tháo gỡ khó khăn cho các đơn vị gặp vướng mắc lớn trong quá trình xử lý tài sản và công nợ.
Phối hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan bảo vệ pháp luật
Để đảm bảo tính thực thi và giữ vững an ninh trật tự tại địa phương, Chỉ thị nhấn mạnh công tác phối hợp liên ngành:
- Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố phải chủ động tham mưu, báo cáo Ủy ban nhân dân các cấp để tranh thủ sự chỉ đạo, hỗ trợ của chính quyền địa phương trong việc tuyên truyền, vận động và cưỡng chế thu hồi nợ đối với các đối tượng cố ý chây ỳ.
- Phối hợp chặt chẽ với cơ quan Công an, Tòa án nhân dân và cơ quan Thi hành án dân sự tại địa phương nhằm đẩy nhanh tiến độ xét xử, thi hành các bản án đã có hiệu lực pháp luật liên quan đến việc thu hồi tài sản của Quỹ tín dụng nhân dân thanh lý.
Chế độ thông tin, báo cáo và kiểm tra tiến độ
Công tác báo cáo được quy định chặt chẽ nhằm đảm bảo thông tin thông suốt từ địa phương đến Trung ương:
- Các Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố phải thực hiện chế độ báo cáo định kỳ (hàng quý hoặc đột xuất khi có yêu cầu) về tiến độ thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân gửi về Ngân hàng Nhà nước Trung ương (Thanh tra Ngân hàng và Vụ các Tổ chức tín dụng).
- Nội dung báo cáo phải phản ánh trung thực, chi tiết số liệu nợ đã thu hồi, số tiền đã chi trả cho người gửi tiền, các khó khăn vướng mắc phát sinh và đề xuất phương án giải quyết cụ thể cho từng trường hợp đặc thù.
Hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện
Chỉ thị số 06/2003/CT-NHNN có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu Chánh Văn phòng, Thanh tra Ngân hàng, Vụ trưởng Vụ các Tổ chức tín dụng, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước Trung ương, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố, Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc các nội dung tại Chỉ thị này.
| NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 06/2003/CT-NHNN | Hà Nội, ngày 21 tháng 10 năm 2003 |
CHỈ THỊ
VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO GIÁM SÁT THANH LÝ QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN
Thực hiện củng cố chấn chỉnh hoạt động Quỹ tín dụng nhân dân theo tinh thần Chỉ thị số 57-CT/TW ngày 10/10/2000 của Bộ chính trị, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã chỉ đạo thu hồi giấy phép hoạt động các Quỹ tín dụng nhân dân quá yếu kém không thể khắc phục để trở lại hoạt động bình thường. Với tinh thần chỉ đạo và triển khai kiên quyết, công tác thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân bị thu hồi giấy phép hoạt động trong thời gian qua đã đạt được một số kết quả nhất định, góp phần đảm bảo an ninh chính trị và trật tự xã hội, không ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân.
Tuy nhiên, công tác thanh lý QTDND cũng đã bộc lộ một số tồn tại: nhận thức về công tác thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân chưa đầy đủ, việc triển khai công tác thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân ở nhiều nơi chưa quyết liệt; Hội đồng thanh lý ở nhiều nơi hoạt động cầm chừng và chưa chủ động; một số chi nhánh Ngân hàng Nhà nước các tỉnh, thành phố chưa làm tốt công tác tham mưu và tranh thủ sự giúp đỡ của cấp uỷ, chính quyền địa phương và các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân; Công tác giám sát, đôn đốc chỉ đạo và báo cáo tình hình hoạt động thanh lý hiệu quả còn thấp. Những tồn tại, hạn chế nêu trên đã làm chậm tiến độ thanh lý và ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình củng cố chấn chỉnh Quỹ tín dụng nhân dân.
Để đẩy nhanh tiến độ thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu:
1. Quán triệt nhận thức công tác thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân là một nội dung nhiệm vụ quan trọng trong quá trình thực hiện Đề án củng cố, hoàn thiện và phát triển hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
2. Vụ Các tổ chức tín dụng hợp tác làm đầu mối phối hợp với các đơn vị liên quan khẩn trương nghiên cứu tham mưu cho Thống đốc trong hoàn thiện cơ chế, chính sách, giải quyết tồn tại, vướng mắc trong công tác thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân hiện nay; tăng cường kiểm tra công tác tham mưu, chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân của chi nhánh Ngân hàng Nhà nước các tỉnh, thành phố.
3. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung triển khai:
3.1- Phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng như báo chí, đài phát thanh, truyền hình ở địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục để có nhận thức đầy đủ trong cấp uỷ, chính quyền các cấp, các ngành cũng như trong nhân dân về vai trò, ý nghĩa quan trọng của công tác thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân, thời gian hoàn thành vào quý IV năm 2003.
3.2- Tham mưu cho Tỉnh uỷ, Thành uỷ và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố tăng cường chỉ đạo cấp uỷ, chính quyền các cấp và các cơ quan bảo vệ pháp luật hỗ trợ Hội đồng thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động có hiệu quả (trong đó tập trung xử lý hỗ trợ thu hồi nợ cho vay) nhằm sớm kết thúc công tác thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn.
3.3- Tham mưu để Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố kiện toàn tổ chức Hội đồng thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân, trong đó lưu ý việc đưa những cá nhân có liên quan trước đây của Quỹ tín dụng nhân dân (cán bộ chủ chốt và nhân viên) tham gia hội đồng thanh lý để gắn trách nhiệm của họ với việc thu hồi nợ vay trong quá trình thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân, đồng thời đưa đại diện Quỹ tín dụng Trung ương và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tham gia Hội đồng thanh lý ở các Quỹ tín dụng nhân dân đang thanh lý mà còn dư nợ vay của Quỹ tín dụng Trung ương và có chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền nhằm hạn chế thấp nhất tổn thất tài sản của Nhà nước trong quá trình thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân, thời gian hoàn thành việc kiện toàn tổ chức nói trên trước 15/11/2003.
3.4- Chỉ đại Hội đồng thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân rà soát đánh giá phân loại nợ và có kế hoạch, biện pháp thu hồi nợ cụ thể với phương châm chủ động và kiên quyết; đối với các trường hợp thành viên còn nợ vay Quỹ tín dụng nhân dân có khả năg trả nợ nhưng cố tình trây ỳ và trường hợp các cán bộ Quỹ tín dụng còn nợ hoặc tham ô, lợi dụng chiếm đoạt tài sản của Quỹ tín dụng nhân dân thì phải kiến quyết xử lý, trường hợp cần thiết đề nghị truy tố trước pháp luật để thu hồi tài sản cho nhà nước và Quỹ tín dụng nhân dân, thời gian hoàn thành việc phân loại và đề ra kế hoạch, biện pháp thu hồi nợ thực hiện trong quý IV năm 2003.
3.5- Kiện toàn, nâng cao trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của Tổ giám sát thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân nhằm góp phần đẩy nhanh tiến độ thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân trên địa bàn, giám sát chặt chẽ việc chi trả các khoản nợ theo trật tự ưu tiên đã được pháp luật quy định, thời gian hoàn thành trong quý IV năm 2003.
3.6- Thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo theo quy định về công tác thanh lý Quỹ tín dụng nhân dân.
4. Quỹ tín dụng Trung ương và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có trách nhiệm cử đại diện tham gia thành phần Hội đồng thanh lý của các Quỹ tín dụng nhân dân nêu tại điểm 3.3 của chỉ thị này; đồng thời tích cực tham gia xử lý thu hồi nợ cho vay thành viên ở các Quỹ tín dụng nhân dân nói trên để hạn chế thấp nhất tổn thất tài sản của Nhà nước trong quá trình thanh lý.
Thủ trưởng các Vụ, Cục liên qua thuộc Ngân hàng Nhà nước, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc Quỹ tín dụng Trung ương và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có trách nhiệm thi hành Chỉ thị này.
Chỉ thị này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày đăng công báo.
|
| Trần Minh Tuấn (Đã ký)
|
- 1 Chỉ thị 01/2008/CT-NHNN về tăng cường chỉ đạo công tác thanh lý quỹ tín dụng nhân dân do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 2 Thông tư 25/2012/TT-NHNN bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 3 Quyết định 211/QĐ-NHNN năm 2019 công bố kết quả hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kỳ hệ thống hóa 2014-2018