Chỉ thị số 18/2001/CT-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành nhằm triển khai các biện pháp cấp bách và lâu dài để xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân. Đây là văn bản chỉ đạo quan trọng nhằm giải quyết triệt để tình trạng thiếu hụt giáo viên, nâng cao chất lượng giảng dạy và cải thiện đời sống cho đội ngũ sư phạm trên cả nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Chỉ thị áp dụng đối với toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân, từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp đến giáo dục đại học. Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp bao gồm đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục tại các cơ sở giáo dục công lập và ngoài công lập, các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, cùng các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân các cấp có liên quan.
Các biện pháp cốt lõi xây dựng đội ngũ nhà giáo
1. Quy hoạch mạng lưới và tăng cường năng lực các trường sư phạm
- Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiến hành rà soát, đánh giá thực trạng đội ngũ nhà giáo để xây dựng quy hoạch mạng lưới các trường sư phạm phù hợp với nhu cầu thực tế.
- Tập trung đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại cho các trường sư phạm trọng điểm, nâng cao năng lực đào tạo và nghiên cứu khoa học của các cơ sở này.
- Mở rộng quy mô tuyển sinh các ngành sư phạm còn thiếu nhiều giáo viên như giáo dục mầm non, tiểu học, nghệ thuật, thể dục thể thao, ngoại ngữ và giáo dục đặc biệt.
2. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo
- Thực hiện đổi mới căn bản chương trình, giáo trình, phương pháp đào tạo trong các trường sư phạm theo hướng hiện đại, tăng cường kỹ năng thực hành sư phạm và khả năng thích ứng của sinh viên sau khi tốt nghiệp.
- Tổ chức thường xuyên, định kỳ các chương trình bồi dưỡng, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy mới và ứng dụng công nghệ thông tin cho đội ngũ giáo viên đang trực tiếp giảng dạy.
- Đẩy nhanh tiến độ chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo các tiêu chuẩn quy định của Luật Giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi về thời gian và kinh phí để giáo viên tham gia học tập nâng chuẩn.
3. Hoàn thiện chính sách, chế độ đãi ngộ đối với nhà giáo
- Nghiên cứu, đề xuất các phương án cải tiến chế độ tiền lương, phụ cấp đứng lớp, phụ cấp thu hút và các chính sách ưu đãi khác đối với nhà giáo, đặc biệt là những người công tác tại vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
- Giải quyết dứt điểm các chế độ chính sách còn tồn đọng, bảo đảm thực hiện đầy đủ, kịp thời các quyền lợi về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chế độ phúc lợi khác cho nhà giáo theo đúng quy định của pháp luật.
- Xây dựng và hoàn thiện cơ chế tôn vinh, khen thưởng nhằm kịp thời động viên những nhà giáo có thành tích xuất sắc, có nhiều cống hiến cho sự nghiệp giáo dục.
4. Nâng cao hiệu quả quản lý, tuyển dụng và sử dụng biên chế giáo dục
- Thực hiện phân cấp quản lý giáo dục mạnh mẽ và rõ ràng, tăng cường vai trò chủ động của ngành giáo dục trong việc tuyển dụng, bố trí, sử dụng và đánh giá đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý.
- Khắc phục triệt để tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ giữa các môn học, các cấp học và giữa các địa phương thông qua cơ chế điều động, luân chuyển hợp lý và linh hoạt.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các chính sách, chế độ đối với nhà giáo; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm trong quản lý biên chế và sử dụng ngân sách giáo dục.
Hiệu lực thi hành
Chỉ thị này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm xây dựng kế hoạch hành động cụ thể và tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc các nội dung của Chỉ thị này.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 18/2001/CT-TTg | Hà Nội, ngày 27 tháng 8 năm 2001 |
VỀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP CẤP BÁCH XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ NHÀ GIÁO CỦA HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, quy mô học sinh, sinh viên các cấp học, bậc học, trình độ đào tạo đều tăng nhanh, đội ngũ nhà giáo phát triển, từng bước đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Chất lượng của đội ngũ nhà giáo tuy có được nâng lên, song còn nhiều bất cập. Giáo viên phổ thông vẫn thiếu về số lượng, không phù hợp về cơ cấu, đặc biệt là thiếu nhiều giáo viên ở miền núi cao, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Giảng viên giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng tăng lên không đáng kể so với sự gia tăng quy mô học sinh, sinh viên; nhiều ngành mới được mở để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế đang thiếu giảng viên; một số lượng lớn giáo sư, phó giáo sư chuẩn bị nghỉ hưu; số sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc không được biên chế vào đội ngũ nhà giáo.
Để xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên (sau đây gọi chung là giáo viên) thực hiện phổ cập trung học cơ sở, bảo đảm vững chắc kết quả phổ cập giáo dục tiểu học, xoá mù chữ, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện một số biện pháp cấp bách dưới đây:
1. Về xây dựng đội ngũ giáo viên mầm non.
a) Biên chế giáo viên mầm non được tập trung phân bổ cho các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, các xã vùng núi cao, hải đảo để làm nòng cốt về chuyên môn, nghiệp vụ và quản lý phát triển giáo dục mầm non của các địa phương này.
b) Tiếp tục thực hiện chủ chương xã hội hoá phát triển sự nghiệp giáo dục mầm non; từng bước khắc phục tình trạng bất hợp lý trong việc biên chế giáo viên mầm non hiện nay. Từ nay ở những nơi có điều kiện kinh tế -xã hội phát triển như các thành phố, thị xã, thị trấn, các địa bàn có khu công nghiệp tập trung, nhà máy, xí nghiệp chỉ tuyển giáo viên mầm non làm việc theo cơ chế hợp đồng và chuyển dần chỉ tiêu biên chế dôi ra do giải quyết chế độ để bổ sung cho các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, những xã vùng núi cao, hải đảo và vùng nông thôn nơi còn thiếu giáo viên mầm non theo quy định của Nhà nước.
2. Về xây dựng đội ngũ giáo viên phổ thông.
b) Việc tuyển giáo viên cho các trường, lớp phổ thông công lập tiếp tục áp dụng theo định mức quy định tại Quyết định số 243/CP ngày 28 tháng 6 năm 1979 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) về tổ chức bộ máy, biên chế của các trường phổ thông.
c) Các trường phổ thông công lập còn thiếu biên chế được xét tuyển không phải qua thi tuyển công chức đối với những sinh viên đã tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc có ngành đào tạo phù hợp để làm giáo viên.
Trường công lập ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa còn thiếu giáo viên nhưng nguồn tuyển không đủ, trước mắt được phép xét tuyển vào biên chế không qua thi tuyển công chức đối với những người đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 61, Điều 67 của Luật Giáo dục.
3. Về xây dựng đội ngũ giáo viên các trường đại học, cao đẳng trung học chuyên nghiệp và dạy nghề.
a) Đối với các cơ sở giáo dục công lập:
- Được xét tuyển thẳng không phải qua hình thức thi tuyển công chức đối với những sinh viên đã tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc có ngành nghề đào tạo phù hợp để làm giáo viên;
- Trước mắt được giao đủ chỉ tiêu biên chế giáo viên phù hợp với quy mô học sinh, sinh viên được tuyển theo chỉ tiêu ngân sách nhà nước và các định mức giáo viên được quy định tại Quyết định số 07-UB/LĐTL ngày 23 tháng 01 năm 1975 của ủy ban Kế hoạch Nhà nước (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư) về tiêu chuẩn tính toán kế hoạch lao động tiền lương;
- Được giao đủ chỉ tiêu biên chế giáo viên cho những ngành, nghề đào tạo mới mở theo yêu cầu của Nhà nước và phù hợp với định mức quy định tại Quyết định số 07-UB/LĐTL nêu trên.
b) Từng cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, nghề phải tự xây dựng và triển khai kế hoạch dài hạn phát triển đội ngũ giáo viên; được áp dụng hình thức tuyển giáo viên làm việc theo cơ chế hợp đồng phù hợp với điều kiện cụ thể của từng cơ sở.
c) Giáo viên hợp đồng có quyền lợi, nghĩa vụ như giáo viên trong biên chế. Kinh phí chi trả lương, đóng bảo hiểm xã hội cho giáo viên hợp đồng được sử dụng từ các nguồn thu hợp pháp của cơ sở giáo dục.
4. Trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước.
a) Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội:
- Chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương xây dựng và thực thực hiện kế hoạch phát triển đội ngũ nhà giáo; chuẩn hoá trình độ của đội ngũ nhà giáo theo quy định của Luật Giáo dục; khai thác tiềm năng của hệ thống giáo dục quốc dân để đào tạo giáo viên phổ thông, đặc biệt là việc đào tạo giáo viên cho những bộ môn còn thiếu nhiều;
- Chỉ đạo cải tiến nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo và bồi dưỡng giáo viên;
- Chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ cùng các Bộ, ngành có liên quan nghiên cứu, bổ sung, điều chỉnh các định mức về trường lớp, biên chế giáo viên, giảng viên, cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ, nhân viên hành chính, định mức lao động cho phù hợp nội dung, chương trình, kế hoạch giảng dạy ở các cấp học, bậc học, trình độ đào tạo.
b) Bộ trưởng, Trưởng Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ:
- Chủ trì, phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, nghiên cứu xác định tỷ lệ giáo viên mầm non trong biên chế nhà nước theo đặc điểm vùng, miền, mật độ dân cư để làm căn cứ điều chỉnh số lượng biên chế giáo viên mần non;
- Hướng dẫn thực hiện; tiến hành kiểm tra, thẩm định nhu cầu biên chế giáo viên của các địa phương, các Bộ, ngành, tổ chức có trường trên cơ sở đó giao đủ số lượng chỉ tiêu biên chế giáo viên cho các địa phương, các Bộ, ngành, tổ chức có trường.
c) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo:
- Quy hoạch lại mạng lưới trường, lớp công lập, ngoài công lập cho từng bậc học, cấp học, trình độ đào tạo phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương. Có kế hoạch và các giải pháp tích cực để bồi dưỡng giáo viên đạt chuẩn trình độ theo quy định của Luật Giáo dục; đào tạo giáo viên các bộ môn còn thiếu nhiều; sắp xếp lại đội ngũ giáo viên, từng bước thực hiện điều chuyển giáo viên từ nơi thừa đến nơi thiếu;
- Xây dựng và thực hiện kế hoạch biên chế, hợp đồng giáo viên hàng năm, 5 năm, báo cáo kết quả với Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- Tiếp tục đầu tư để tăng cường cơ sở vật chất và các thiết bị dạy học, nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên các trường cao đẳng sư phạm địa phương;
- Dành ngân sách để bảo đảm thực hiện các chính sách chế độ cho giáo viên theo quy định của nhà nước; hỗ trợ tiền lương, bảo hiểm xã hội cho giáo viên mầm non làm việc theo hợp đồng tại các cơ sở giáo dục công lập và bán công ở nông thôn.
d) Các Bộ, ngành, tổ chức có trường căn cứ vào các quy định tại Chỉ thị này để xây dựng kế hoạch biên chế giáo viên, giảng viên hàng năm và kế hoạch 5 năm, gửi Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ để thẩm định.
đ) Bộ Tài chính bố trí kinh phí để thực hiện kịp thời các chính sách, chế độ đối với nhà giáo.
e) Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo thực hiện tốt Chỉ thị này.
|
| Phạm Gia Khiêm (Đã ký) |
- 1 Luật Giáo dục 1998
- 2 Thông tư liên tịch 24/2002/TTLT-BGD&ĐT-BTCCBCP hướng dẫn xét tuyển dụng công chức giáo viên phổ thông giáo viên phổ thông, mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo - Ban Tổ chức Cán bộ Chính phủ ban hành
- 3 Chỉ thị 34/2002/CT-BGDĐT về nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngành trong năm học 2002-2003 do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành
- 4 Quyết định 243-CP năm 1979 về việc tổ chức bộ máy, biên chế của các trường phổ thông do Hội đồng chính phủ ban hành