Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Ngày 13 tháng 09 năm 1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Chỉ thị số 330-CT về việc tăng cường quản lý ngoại hối nhằm chấn chỉnh trật tự trong lưu thông ngoại tệ, chống tình trạng đô-la hóa nền kinh tế và tập trung nguồn ngoại tệ vào tay Nhà nước phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội cấp bách.

Phạm vi áp dụng của Chỉ thị bao gồm toàn bộ các hoạt động quản lý, sử dụng, mua bán, thanh toán và lưu thông ngoại hối (bao gồm ngoại tệ, vàng tiêu chuẩn, đá quý và các công cụ thanh toán bằng ngoại tệ) trên lãnh thổ Việt Nam. Đối tượng áp dụng là các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức xã hội, công dân Việt Nam và các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.

Tập trung nguồn ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng được phép hoạt động ngoại hối
  • Tất cả các đơn vị kinh tế có nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu hàng hóa, cung ứng dịch vụ thu ngoại tệ hoặc từ các nguồn thu hợp pháp khác đều phải mở tài khoản và gửi toàn bộ số ngoại tệ đó vào các ngân hàng được phép hoạt động ngoại hối trong nước.
  • Nghiêm cấm các đơn vị, tổ chức tự ý giữ lại ngoại tệ ở nước ngoài hoặc mở tài khoản ngoại tệ tại nước ngoài khi chưa được sự cho phép bằng văn bản của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
  • Các doanh nghiệp có nghĩa vụ bán một tỷ lệ ngoại tệ nhất định cho Nhà nước theo quy định của Hội đồng Bộ trưởng trong từng thời kỳ để đảm bảo nhu cầu ngoại tệ chung của nền kinh tế và thanh toán các khoản nợ quốc gia.
Chấm dứt tình trạng sử dụng ngoại tệ tự do trong nội địa
  • Mọi giao dịch mua bán, thanh toán, ký gửi, quảng cáo, niêm yết giá cả hàng hóa và dịch vụ trên lãnh thổ Việt Nam không được sử dụng ngoại tệ trực tiếp, trừ các trường hợp đặc biệt được Ngân hàng Nhà nước cấp phép cụ thể.
  • Các cửa hàng chuyên doanh thu ngoại tệ (Duty Free Shop hoặc các cửa hàng được phép bán thu ngoại tệ) phải thực hiện đúng các quy định về quản lý doanh thu, niêm yết giá và nộp ngoại tệ vào ngân hàng theo đúng quy định pháp luật, không được để rò rỉ ngoại tệ ra thị trường tự do.
  • Từng bước thực hiện nghiêm túc nguyên tắc "trên đất nước Việt Nam chỉ tiêu tiền Việt Nam" nhằm bảo vệ giá trị đồng nội tệ và ổn định hệ thống lưu thông tiền tệ quốc gia.
Quản lý chặt chẽ hoạt động kinh doanh vàng và xuất nhập khẩu vàng
  • Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chịu trách nhiệm thống nhất quản lý các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu vàng tiêu chuẩn, vàng trang sức và các loại đá quý.
  • Các tổ chức, cá nhân muốn kinh doanh vàng bạc, đá quý phải có giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp và phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về thuế, niêm yết giá và chứng minh nguồn gốc xuất xứ của kim loại quý.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các vi phạm
  • Giao Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an), Tổng cục Hải quan và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động ngoại hối trên địa bàn.
  • Kiên quyết đấu tranh, triệt phá và xử lý nghiêm các hành vi mua bán ngoại tệ trái phép trên thị trường tự do (chợ đen), các hành vi buôn lậu ngoại tệ, vàng bạc qua biên giới.
  • Các trường hợp vi phạm quy định về quản lý ngoại hối sẽ bị xử lý nghiêm khắc, tịch thu tang vật, xử phạt hành chính ở mức cao nhất hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành tùy theo mức độ vi phạm.

Chỉ thị 330-CT có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký (ngày 13 tháng 09 năm 1990). Các quy định trước đây của các Bộ, ngành và địa phương trái với Chỉ thị này đều bãi bỏ.

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 330-CT

Hà Nội, ngày 13 tháng 9 năm 1990

 

CHỈ THỊ

VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NGOẠI HỐI

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG

Ngày 18 tháng 10 năm 1988, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định 161-HĐBT kèm theo Điều lệ quản lý ngoại hội của nước ta.

Gần hai năm thực hiện Điều lệ quản lý ngoại hối nói trên, chúng ta đã đạt được một số kết quả nhất định, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị mở rộng sản xuất, kinh doanh góp phần làm nghĩa vụ cho ngân sách Nhà nước và ổn định giá cả thị trường.

Bên cạnh một số kết quả bước đầu còn hạn chế nói trên, việc thi hành Điều lệ quản lý ngoại hối vẫn còn nhiều vi phạm nguyên tắc quản lý ngoại hối của Nhà nước.

CHỈ THỊ:

1. Các tổ chức xuất nhập khẩu hàng hoá và làm dịch vụ thu được ngoại tệ ở nước ngoài phải chuyển hết vào tài khoản ngoại tệ của mình tại các ngân hàng Việt Nam.

Các tổ chức được phép kinh doanh hàng hoá và làm dịch vụ thu ngoại tệ trong nước phải gửi số ngoại tệ thu được vào ngân hàng.

Ngân hàng phải bảo đảm chi trả kịp thời cho người gửi và làm tốt chức năng thanh toán giữa các đơn vị sản xuất kinh doanh và ngoài nước.

Nhà nước khuyến khích các tổ chức và cá nhân mua bán ngoại tệ qua Ngân hàng với tỷ giá phù hợp thị trường. Cấm mua bán ngoại tệ ngoài tổ chức Ngân hàng. Ngân hàng phải tổ chức mua, bán ngoại tệ nhanh chóng thuận tiện không gây phiền hà.

2. Các tổ chức có ngoại tệ không được mở tài khoản và gửi ngoại tệ tại nước ngoài, trừ những trường hợp được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép. Những tổ chức hiện đang có ngoại tệ gửi ở nước ngoài mà chưa có giấy phép của Ngân hàng Nhà nước thì phải xin Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép. Nếu Ngân hàng Nhà nước xét không đủ điều kiện cấp giấy phép thì phải tất toán tài khoản và chuyển hết ngoại tệ về nước trước ngày 15 tháng 10 năm 1990.

Các tổ chức có ngoại tệ được phép gửi ở Ngân hàng nước ngoài có trách nhiệm báo cáo thường xuyên cho Ngân hàng Nhà nước số lượng ngoại tệ, nơi gửi tiền và tình hình sử dụng ngoại tệ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

3. Việc quản lý ngoại tệ đối với cá nhân thực hiện theo quy định của Điều lệ quản lý ngoại hối ban hành kèm theo Nghị định số 161-HĐBT ngày 18 tháng 10 năm 1988.

4. Các tổ chức và cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam phải chuyển đủ phần vốn góp bằng ngoại tệ vào Việt Nam theo cam kết.

5. Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm rà soát lại giấy phép hoạt động thu ngoại tệ đã cấp cho các tổ chức bán hàng hoá, làm dịch vụ thu ngoại tệ và các tổ chức là dịch kiều hối tại Việt Nam. Từ ngày 01 tháng 10 năm 1990 những tổ chức không được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép thì không được hoạt động thu ngoại tệ.

6. Các ngành, địa phương và các tổ chức của các Bộ, các tỉnh, thành phố có thu chi ngoại tệ đều phải lập kế hoạch về dự toán và quyết toán thu chi ngoại tệ theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước; Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính, Bộ Thương nghiệp lập bảng cân đối thu chi ngoại tệ trình Hội đồng Bộ trưởng.

7. Giao cho Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác định và công bố tỷ giá chính thức giữa đồng Việt Nam với đôla Mỹ và các ngoại tệ chuyển đổi khác phù hợp với tỷ giá thị trường. Các Ngân hàng được phép mua, bán ngoại tệ căn cứ tỷ giá chính thức để định tỷ giá mua, bán ngoại tệ trong biên độ quy định của Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước.

8. Việc nhập khẩu vàng do Ngân hàng Nhà nước đảm nhận, các tổ chức khác chỉ được nhập vàng khi được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép. Việc lưu thông vàng thỏi trên thị trường nội địa do Ngân hành Nhà nước đảm nhận. Các cửa hàng kim hoàn được phép kinh doanh theo Quyết định 139-CT ngày 24 tháng 5 năm 1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.

Các tổ chức đã nhập vàng về nước từ đầu năm 1990 đến nay phải báo cáo cho Ngân hàng Nhà nước số lượng vàng đã nhập, số vàng đã tiêu thụ và số vàng tồn kho đến ngày 30 tháng 9 năm 1990.

Cấm sử dụng vàng dưới bất kỳ dạng nào để thanh toán, chi trả cho việc mua, bán hàng hoá qua biên giới.

9. Ngân hàng Nhà nước cần tổ chức huy động tiền tiết kiệm bằng ngoại tệ của các tầng lớp dân cư với lãi suất thoả đáng do Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước quy định.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam , Bộ Tài chính, Bộ Thương nghiệp, Tổng cục Hải quan ra văn bản hướng dẫn chi tiết và tổ chức việc thực hiện Chỉ thị này theo chức năng của mình. Các Bộ, các tỉnh, thành phố, các cơ sở có trách nhiệm thi hành nghiêm chỉnh Chỉ thị này.

Chỉ thị này có hiệu lực từ ngày ký và thay thế Chỉ thị số 254-CT ngày 7 tháng 7 năm 1990.

 

 

Võ Văn Kiệt

(Đã ký)

 

 

Văn bản liên quan nội dung
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Chỉ thị 330-CT 1990 về việc tăng cường quản lý ngoại hối do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành

Số hiệu: 330-CT
Loại văn bản: Chỉ thị
Ngày ban hành: 13/09/1990
Nơi ban hành: Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng
Người ký: Võ Văn Kiệt
Ngày công báo: 15/11/1990
Số công báo: Số 21
Ngày hiệu lực: 13/09/1990
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Tiền tệ - Ngân hàng
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Chỉ thị 330-CT 1990 về việc tăng cường quản l...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký