Giới thiệu chung về Chỉ thị 515-TTg năm 1957
Chỉ thị 515-TTg về thuế nông nghiệp năm 1957 do Thủ tướng Chính phủ ban hành trong bối cảnh miền Bắc nước ta đang trong giai đoạn khôi phục kinh tế sau chiến tranh và thực hiện công tác sửa sai sau cải cách ruộng đất. Đây là một văn bản pháp lý quan trọng nhằm điều chỉnh chính sách thuế nông nghiệp, ổn định đời sống nhân dân, khuyến khích sản xuất nông nghiệp phát triển và củng cố khối liên minh công nông.
Các nội dung cốt lõi và chính sách trọng tâm của Chỉ thị 515-TTg
1. Mục đích và nguyên tắc chỉ đạo của chính sách thuế nông nghiệp mới
- Ổn định lòng dân và khuyến khích sản xuất: Chỉ thị nhấn mạnh việc thu thuế nông nghiệp phải đi đôi với việc khuyến khích nông dân tích cực tăng gia sản xuất, khai hoang, phục hóa và áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất.
- Đảm bảo tính công bằng, hợp lý: Việc tính thuế phải dựa trên sản lượng thực tế của ruộng đất, tránh tình trạng áp đặt thuế quá cao gây quá sức dân hoặc quá thấp làm thất thu ngân sách nhà nước.
- Sửa chữa các sai lầm cũ: Khắc phục triệt để những sai sót trong việc phân loại ruộng đất, xác định hạng đất và sản lượng bình quân trong giai đoạn cải cách ruộng đất trước đó.
2. Quy định về căn cứ tính thuế và xác định sản lượng
- Xác định lại hạng đất và sản lượng chuẩn: Các địa phương phải tiến hành rà soát, điều chỉnh lại việc phân hạng ruộng đất một cách dân chủ và công khai. Sản lượng tính thuế phải sát với năng suất thực tế của từng vùng, từng loại đất.
- Chính sách đối với diện tích đất mới khai hoang: Để khuyến khích mở rộng diện tích canh tác, Chỉ thị quy định các chính sách miễn thuế hoặc giảm thuế có thời hạn đối với đất mới khai hoang, đất phục hóa và đất trồng cây công nghiệp dài ngày trong những năm đầu chưa có thu hoạch.
3. Chính sách miễn, giảm thuế nông nghiệp cho các đối tượng đặc thù
- Hỗ trợ thiên tai, mất mùa: Quy định chi tiết về việc miễn, giảm thuế cho các vùng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lụt, hạn hán hoặc sâu bệnh gây thiệt hại lớn đến năng suất cây trồng.
- Ưu đãi đối với gia đình chính sách: Áp dụng các mức giảm thuế thích đáng cho gia đình liệt sĩ, thương binh, gia đình có công với cách mạng và các hộ nông dân nghèo, neo đơn không có sức lao động.
- Khuyến khích hợp tác hóa: Có các chính sách ưu đãi thuế ban đầu đối với các tổ đổi công, hợp tác xã nông nghiệp mới thành lập nhằm khuyến khích nông dân đi vào con đường làm ăn tập thể.
4. Phương thức tổ chức thu thuế và quản lý tại địa phương
- Thực hiện dân chủ, công khai: Quá trình bình nghị sản lượng, tính thuế và công bố mức thuế phải được thực hiện công khai trước toàn thể nhân dân trong thôn, xã để người dân giám sát, tránh hiện tượng thiên vị hoặc lạm quyền của cán bộ địa phương.
- Phối hợp liên ngành: Ủy ban hành chính các cấp (tỉnh, huyện, xã) có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo công tác thu thuế, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tài chính, nông nghiệp để triển khai thu thuế nhanh gọn, đúng thời vụ, tránh gây phiền hà cho nông dân.
- Công tác tuyên truyền, giáo dục: Đẩy mạnh công tác giải thích, tuyên truyền sâu rộng về nghĩa vụ đóng góp thuế của công dân đối với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước, giúp người dân tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế.
Ý nghĩa lịch sử và thực tiễn của văn bản
Chỉ thị 515-TTg năm 1957 đã đóng vai trò quyết định trong việc ổn định tình hình nông thôn miền Bắc sau những biến động của cuộc cải cách ruộng đất. Bằng việc điều chỉnh chính sách thuế hợp lòng dân, văn bản này không chỉ giúp khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp mạnh mẽ mà còn củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân vào đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ trong giai đoạn đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | VIỆT |
| Số: 515-TTg | Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 1957 |
CHỈ THỊ
VỀ THUẾ NÔNG NGHIỆP NĂM 1957 (BỔ SUNG CHỈ THỊ SỐ 416-TTG NGÀY 7-10-1957)
Đến nay, nói chung các địa phương đã tổ chức nghiên cứu xong chủ trương điều chỉnh diện tích, sản lượng và thu thuế nông nghiệp trong nội bộ cán bộ lãnh đạo các cấp, bản dịch xong kế hoạch thi hành. Một số địa phương làm nhanh, đã đào tạo xong cán bộ thôn xã.
Nhiều địa phương đã chú ý nhiều đến đả thông tư tưởng cán bộ, đã thảo luận kĩ về kế hoạch soát lại diện tích và điều chỉnh sản lượng thích hợp với địa phương mình. Một số địa phương gặp nhiều khó khăn đã dùng biện pháp tạm thời giải quyết vấn đề diện tích, sản lượng một cách đơn giản nhằm hoàn thành việc thu thuế đủ mức, đúng thời vụ. Một số ít địa phương khác có dự định điều chỉnh sản lượng trong một phạm vi tương đối rộng ; việc này cần thận trọng, đề phòng tình trạng làm không được tốt, kéo dài thời gian. Ngoài ra, cũng có một số địa phương vín nhiều vào khó khăn khách quan, đã có dự trù trong công tác, chưa bắt tay vào làm đã có ý muốn rút mức thuế. Như thế không đúng, vì sẽ ảnh hưởng đến việc thu thuế đúng thời vụ, và đúng mức.
Hiện nay, công tác thuế nông nghiệp đang gặp khó khăn là thời gian công việc thì ngắn mà công việc nhiều, khả năng lãnh đạo có hạn, cán bộ thiếu. Các Ủy ban hành chính các cấp cần tập trung lãnh đạo khắc phục những khó khăn đó, để hoàn thành nhiệm vụ đã đề ra.
Căn cứ tình hình hiện nay, tiếp chỉ thị số 461-TTg ngày 7 tháng 10 năm 1957, nay lưu ý Ủy ban Hành chính các cấp và nói rõ thêm mấy điểm sau :
1) Mức thuế . Cần nhắc lại là : mức thuế nói chung và mức thuế nói riêng đã giao cho các địa phương là đã căn cứ vào số thuế thực thu năm 1956 và căn cứ vào chủ trương điều chỉnh diện tích, sản lượng trong năm nay mà định. Với mức thuế ấy ,chỉ động viên vào khoản 12% số thu hoạch về lúa năm 1957. Đó là mức phải bảo đảm. Hiện nay, việc điều chỉnh diện tích sản lượng chưa làm xong, không nên để ý kiến rút mức thuế.
Bộ Tài chính đã đề ra với các địa phương những số liệu về diện tích, sản lượng. Đó là những số liệu có căn cứ, nhưng có thể có chỗ chưa thật sát. Dù sao, cần coi đó là những con số lãnh đạo, phải cố gắng đạt tới để đảm bảo mức thuế.
Vấn đề chính đặt ra lúc này là : các địa phương phải căn cứ vào chủ trương và kế hoạch điều chỉnh diện tích, sản lượng đã định, mà ra sức lãnh đạo thực hiện cho tốt nhằm đạt được những yêu cầu đã đề ra là thu thúê đủ mức và đúng thời vụ, đồng thời góp phần ổn định nông thôn.
2) Vấn đề thời gian. Cần nắm vững yêu cầu là thu thuế ngay sau khi gặt xong, thu xong trong vòng một tháng. Muốn vậy, cần cố gắng điều chỉnh diện tích, sản lượng cho xong trong tháng 11 năm 1957. Tuy nhiên, đối với một số nơi, vì hòan cảnh công tác phức tạp, hoặc vì gặt sớm, có thể thu chậm hơn sau khi gặt xong khoảng 15, 20 hôm; nhưng không nên thu quá xa sau vụ gặt như một số nơi đề nghị. Nếu xét thật cần thiết, để khỏi lỡ thời vụ, có thể vận động nông dân tạm nộp cho Nhà nước, chờ lập sổ thuế xong sẽ thanh toán dứt khoát ngay trong vụ đông này.
3) Vấn đề cán bộ. Công tác thuế chủ yếu phải do cán bộ thôn xã làm. Cho nên, phải coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thôn xã để số anh em này có thể nắm được chính sách thuế và phương pháp làm thuế, có tinh thần trách nhiệm, tự động công tác được ; và cũng do đó, không điều động số anh em này đi làm các công tác khác trong suốt thời gian điều chỉnh diện tích, sản lượng và thu thuế nông nghiệp. Đồng thời cần có sự chỉ đạo chặt chẽ của cấp trên, đặc biệt là của cấp huyện. Việc kiểm tra, đôn đốc phải do các cơ quan lãnh đạo các cấp trực tiếp đảm nhiệm. Muốn thế, cần phân công phụ trách rành mạch, kết hợp chặt chẽ các công tác, phân phối cán bộ vào từng công tác cho hợp lý, tập trung lãnh đạo vào từng công tác cho đúng lúc, tránh tình trạng làm việc này bỏ việc khác; riêng về thuế nông nghiệp, việc lãnh đạo cần tập trung đúng mức vào hai đợt công tác quan trọng nhất là : đợt điều chỉnh diện tích, sản lượng, trong vòng một tháng; đợt thu thuế trong vòng 20 ngày.
Ngoài ra, các khu, tỉnh nên thu xếp công tác ở địa phương để có thể tập trung một số các ngành và cán bộ sửa sai có năng lực và đã quen công tác thuế đưa về giúp các huyện chỉ đạo thực hiện.
4) Vấn đề cấp giấy chứng nhận ruộng đất cho nông dân. Vấn đề này là một vấn đề quan trọng và phức tạp, có ý nghĩa chính trị lớn. Trước mắt, vì cần tập trung lãnh đạo việc điều chỉnh diện tích cho tốt, nên chưa đặt vấn đề cấp ngay giấy chứng nhận ruộng đất cho nông dân. Nói chung, chưa giải quyết những trường hợp tranh chấp về ruộng đất, nếu có thì ghi lại và tuyên bố là sẽ giải quyết khi cấp giấy chứng nhận ruộng đất. Hiện nay, về mặt thu thuế nông nghiệp thì chúng ta theo quan điểm : người nào hưởng hoa lợi thì người đó chịu thuế.
5) Vấn đề miễn giảm. Chính sách đã có.Cần thi hành đúng và kịp thời để tỏ rõ sự quan tâm của Chính phủ đối với nông dân những vùng bị thiên tai; do đó mà củng cố thêm một bước lòng tin tưởng của nông dân đối với chính sách, đối với lãnh đạo.
6) Vấn đề kho tàng. Để giải quyết vấn đề này, chỉ thị trước đã nêu rõ hướng. Ngay từ bây giờ, Ủy ban Hành chính các cấp cần kiểm điểm lại việc chuẩn bị kho tàng (để thu thuế và thu mua), giúp đỡ công ty Lương thực giải quyết mọi khó khăn để đảm bảo lúc cần kho là có đủ kho.
7) Thủ tướng phủ sẽ hợp với các Ủy ban Hành chính địa phương vào khoản 25-11-1957 để :
Kiểm điểm tình hình điều chỉnh diện tích, sản lượng.
Kiểm điểm việc tổ chức thu thuế và thu mua.
Theo nội dung như trên, Ủy ban Hành chính các cấp cần chuẩn bị trước.
Nhận được chỉ thị này, Uỷ ban Hành chính các cấp cần nghiên cứu kĩ để thi hành đúng.
|
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.