TÓM TẮT CHI TIẾT ĐIỀU LỆ SỐ 715-TTg VỀ THUẾ NÔNG NGHIỆP (1956)
Điều lệ số 715-TTg về Thuế Nông nghiệp được ban hành theo Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ ngày 22 tháng 3 năm 1956 do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký duyệt. Đây là văn bản pháp lý quan trọng áp dụng tại các vùng đã hoàn thành cải cách ruộng đất, nhằm mục đích khôi phục, phát triển sản xuất nông nghiệp, giảm nhẹ đóng góp của nông dân và bảo đảm nguồn thu cho Nhà nước thông qua phương pháp tính thuế đơn giản, công bằng.
1. Nguyên tắc chung và đối tượng chịu thuế (Chương I)
- Mục đích ban hành: Đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp sau cải cách ruộng đất, giảm bớt gánh nặng đóng góp cho nông dân, đồng thời đảm bảo nhu cầu lương thực và ngân sách của Nhà nước.
- Tính duy nhất của thuế nông nghiệp: Thuế nông nghiệp là thứ thuế duy nhất đánh vào hoa lợi ruộng đất do Trung ương quy định. Các địa phương tuyệt đối không được tự ý đặt ra bất kỳ khoản đóng góp nào khác ngoài thuế này.
- Căn cứ tính thuế: Thuế được tính trên tổng hoa lợi ruộng đất của mỗi nông hộ, dựa trên hoa lợi bình quân đầu người (nhân khẩu nông nghiệp) theo biểu thuế lũy tiến toàn ngạch.
- Định nghĩa cốt lõi:
- Nông hộ: Là đơn vị sản xuất nông nghiệp gồm những người làm chung và hưởng chung hoa lợi.
- Nhân khẩu nông nghiệp: Là những người lấy hoa lợi nông nghiệp làm nguồn sống chính, không phân biệt độ tuổi hay giới tính.
- Các trường hợp miễn thuế hoàn toàn: Đất chưa khai khẩn; ruộng đất bỏ hoang có lý do chính đáng; vườn ươm giống, trạm thí nghiệm nông - lâm nghiệp nhà nước; bãi cát, đồi trọc trồng rừng phòng hộ; bãi cỏ chăn nuôi, đất làm gạch ngói, gốm, sân thể thao, nghĩa địa; ruộng đất tự canh của nhà thương, trường học, trại an dưỡng để cải thiện đời sống; đất đào giếng, mương chống hạn; đất đô thị đã chịu thuế thổ trạch; đất ở (nền nhà, sân phơi, đường đi) dưới 100m2; ruộng chuyên gieo mạ không trồng cây thường năm.
2. Căn cứ tính thuế và xác định sản lượng (Chương II)
- Sản lượng thường năm: Là sản lượng bình thường hàng năm của ruộng đất theo phương thức canh tác thông thường tại địa phương, không phụ thuộc vào việc được mùa hay mất mùa thực tế. Mọi nỗ lực tăng vụ, chăm bón kỹ làm tăng năng suất thực tế đều không bị tính thêm thuế nhằm khuyến khích tăng gia sản xuất.
- Quy đổi nông sản: Sản lượng được tính bằng thóc. Các loại hoa màu lương thực (ngô, khoai, sắn) được quy đổi ra thóc. Đối với đất trồng cây công nghiệp, hoa màu khác (bông, lạc, mía...), sản lượng được áp theo định mức của ruộng cấy lúa hoặc đất trồng ngô, khoai, sắn tương đương.
- Đất chuyên trồng rau, hoa ngoại ô: Do có thu nhập cao hơn, sản lượng tính thuế được định cao hơn ruộng thường nhưng khống chế mức trần không quá 2 lần sản lượng của ruộng đất hạng nhất trong xã.
- Thời hạn ổn định thuế: Sản lượng thường năm sau khi được Ủy ban hành chính tỉnh phê duyệt sẽ được giữ cố định trong thời hạn 3 năm.
- Khuyến khích thủy lợi:
- Nhân dân tự làm công trình thủy lợi: Miễn tăng thuế trong 5 năm.
- Nhà nước và nhân dân cùng làm: Miễn tăng thuế trong 3 năm.
- Nhà nước đầu tư hoàn toàn: Miễn tăng thuế trong 1 năm.
- Cây lưu niên và sản vật đặc biệt: Đất trồng chè, sơn, hồi, chẩu, cà phê, cây ăn quả... tại các vùng sản vật đặc biệt (do tỉnh đề nghị, khu quyết định) không tính theo biểu thuế chung mà đánh thuế riêng với thuế suất phẳng 7% trên thu hoạch thực tế hàng năm.
- Hồ, đầm, ao: Hồ đầm lớn do địa phương quản lý chịu thuế 5% trên thu hoạch thực tế. Ao trồng rau, sen, cá tính thuế theo biểu thuế chung. Ao trữ nước chống hạn, ao thả bèo làm phân hoặc thả rau chăn nuôi được miễn thuế.
3. Xác định nhân khẩu nông nghiệp (Chương III)
- Nguyên tắc đăng ký: Mỗi người chỉ được tính nhân khẩu nông nghiệp một lần ở một nơi cư trú thực tế tại thời điểm kê khai. Người làm thuê tính nhân khẩu tại gia đình mình, không tính tại nhà chủ. Người tàn tật, cô đơn được nhận nuôi được tính vào hộ nhận nuôi.
- Khuyến khích nghề phụ: Người làm nghề phụ nông thôn vẫn được tính là nhân khẩu nông nghiệp để khuyến khích phát triển kinh tế phụ gia đình.
- Trường hợp kiêm nghề và loại trừ:
- Hộ có nghề chính khác: Chỉ tính nhân khẩu nông nghiệp cho những người thực sự tham gia làm ruộng.
- Hộ làm muối: Cứ 500m2 ruộng muối quy đổi tương đương 1 người làm muối chuyên nghiệp và không tính vào nhân khẩu nông nghiệp.
- Không tính nhân khẩu nông nghiệp đối với: Cán bộ, công nhân viên hưởng lương nhà nước; học sinh được nhà nước đài thọ hoàn toàn; tù nhân đã thành án.
- Đối tượng ưu đãi đặc biệt (vẫn được tính nhân khẩu nông nghiệp dù không sống bằng nông nghiệp): Bộ đội tại ngũ; thương bệnh binh tại trại an dưỡng hoặc đã chuyển ngành sang lĩnh vực khác; gia đình liệt sĩ hy sinh vì cách mạng từ năm 1930 hoặc trong kháng chiến; bộ đội chuyển ngành về địa phương (được tính trong vòng 2 năm kể từ khi xuất ngũ).
4. Biểu thuế và phương pháp tính thuế (Chương IV)
- Biểu thuế lũy tiến toàn ngạch: Biểu thuế gồm 27 bậc dựa trên hoa lợi bình quân đầu người (tính bằng thóc):
- Dưới 60 kg/nhân khẩu: Miễn thuế hoàn toàn.
- Từ trên 60 kg đến 80 kg: Thuế suất 7%.
- Tăng dần theo từng bậc (ví dụ: bậc 10 từ 340-380 kg chịu 16%; bậc 20 từ 780-820 kg chịu 26%).
- Bậc cao nhất (bậc 27): Trên 1060 kg chịu thuế suất tối đa 37%.
- Phát canh và lĩnh canh: Chủ ruộng và người cày cấy cùng chịu thuế dựa trên phần hoa lợi thực tế mỗi bên nhận được, không áp dụng quy định tăng giảm 25% như thời kỳ trước cải cách ruộng đất.
- Gộp đất tính thuế: Hộ có ruộng đất ở nhiều nơi phải gộp toàn bộ hoa lợi lại để tính thuế tại nơi cư trú chính.
- Đất dự trữ, đất vắng chủ, đất treo giò: Hoa lợi từ phần đất này không gộp vào đất sẵn có của hộ nhận cày cấy. Thuế tính riêng theo thuế suất của phần đất sẵn có của hộ đó (nếu hộ không có đất hoặc chưa đến mức chịu thuế thì áp thuế suất phẳng 7%). Nếu chính quyền thu một phần hoa lợi từ đất này thì chính quyền nộp thuế 10% trên phần thu được, người cấy nộp phần còn lại.
- Đất tôn giáo (nhà chùa, nhà thờ, thánh thất): Áp dụng mức thuế suất phẳng 8% trên sản lượng thường năm (kể cả trường hợp phát canh, lĩnh canh).
- Hợp tác xã nông nghiệp:
- Xã viên góp ruộng: Tính thuế riêng cho từng hộ xã viên theo biểu thuế chung.
- Hợp tác xã nhận canh tác đất dự trữ, đất vắng chủ: Hợp tác xã nộp thuế chung với thuế suất phẳng 12%.
- Ưu đãi thương bệnh binh, bộ đội phục viên: Nếu lập hộ riêng được miễn thuế 2 năm đối với phần ruộng đất của mình. Nếu sống chung với gia đình, gia đình được giảm 50 kg thóc/năm trong vòng 2 năm.
5. Chế độ miễn, giảm thuế do thiên tai, tai nạn (Chương V)
- Tỷ lệ giảm, miễn thuế do thiên tai (hạn, lụt, bão, sâu bệnh):
- Thiệt hại dưới 20% tổng hoa lợi: Không giảm thuế.
- Thiệt hại từ 20% đến dưới 25%: Giảm 20% số thuế phải nộp.
- Thiệt hại từ 25% đến dưới 30%: Giảm 25% số thuế phải nộp.
- Thiệt hại từ 30% đến dưới 35%: Giảm 30% số thuế phải nộp.
- Thiệt hại từ 35% đến dưới 40%: Giảm 40% số thuế phải nộp.
- Thiệt hại từ 40% đến dưới 50%: Giảm 50% số thuế phải nộp.
- Thiệt hại từ 50% đến dưới 60%: Giảm 70% số thuế phải nộp.
- Thiệt hại từ 60% trở lên: Miễn thuế hoàn toàn.
- Nguyên tắc bình nghị thiệt hại: Áp dụng tỷ lệ thiệt hại chung cho các ruộng đất cùng khoảnh, cùng hạng, cùng loại cây trồng bị tai nạn như nhau. Khuyến khích chống thiên tai: hộ tích cực cứu mùa màng dù thiệt hại thực tế ít hơn vẫn được hưởng mức giảm chung; hộ lười biếng để thiệt hại nặng hơn vẫn chỉ được tính theo mức thiệt hại chung của khoảnh đất.
- Thiên tai liên tiếp hoặc đặc biệt nghiêm trọng: Ủy ban hành chính khu/tỉnh có quyền đề nghị mức giảm, miễn cao hơn quy định chung, nhưng phải được Bộ Tài chính phê duyệt trước khi thực hiện.
- Mất sức lao động đột xuất: Hộ gặp tai nạn bất ngờ hoặc lý do chính đáng dẫn đến mất sức lao động được nhân dân bình nghị giảm, miễn thuế theo hoàn cảnh thực tế (không áp dụng cứng nhắc theo tỷ lệ thiệt hại mùa màng), do Ủy ban hành chính tỉnh phê duyệt.
6. Tổ chức thu thuế và quản lý hành chính (Chương VI)
- Thời gian và phương thức thu: Thuế tính mỗi năm 1 lần, thu làm 2 vụ (vụ hạ và vụ đông) tùy theo tỷ lệ thu hoạch thực tế của từng vụ. Thuế nộp bằng thóc (yêu cầu khô, sạch, không lẫn cát sạn). Những vùng ít thóc được phép nộp bằng nông sản khác hoặc bằng tiền theo tỷ giá do Bộ Tài chính quy định.
- Quản lý sổ thuế: Sổ thuế sau khi được Ủy ban hành chính tỉnh duyệt là cố định, không được sửa chữa. Mọi thay đổi về ruộng đất phát sinh sau đó do các bên tự thương lượng nộp thay cho người đứng tên trên sổ.
- Nhiệm vụ của nông hộ: Kê khai trung thực diện tích, sản lượng, nhân khẩu; nộp thuế đúng hạn; vận chuyển thóc thuế đến kho trong phạm vi 15km (nếu quá 15km được Nhà nước trả thù lao vận chuyển từ km thứ 16).
- Quyền khiếu nại: Nông dân có quyền đề nghị xã xét lại hoặc khiếu nại lên huyện, tỉnh nếu phát hiện sai sót trong tính toán. Trong thời gian chờ giải quyết, hộ vẫn phải nộp đủ thuế đúng hạn; thừa thiếu sẽ được hoàn trả hoặc truy thu sau.
- Ban thuế nông nghiệp xã: Được thành lập ở mỗi xã để trực tiếp thực hiện công tác thuế dưới sự chỉ đạo của Ủy ban hành chính xã.
- Thành phần: Chủ tịch/Phó chủ tịch xã làm Trưởng ban; Đại diện Ban chấp hành nông hội xã làm Phó ban; Cán bộ địa bạ làm Thư ký; Mỗi thôn cử một đại biểu làm Ủy viên.
- Nhiệm vụ: Tuyên truyền chính sách; tổ chức điều tra, bình nghị kê khai; kiểm soát diện tích, sản lượng, nhân khẩu; lập sổ thuế; đôn đốc thu thuế, kiểm tra chất lượng thóc và lưu trữ hồ sơ.
7. Khen thưởng và xử phạt (Chương VII & VIII)
- Khen thưởng: Tuyên dương, khen thưởng những người dân kê khai thành thật, nộp thuế nhanh, tốt, bảo vệ kho tàng và những cán bộ thuế tận tụy, chí công vô tư, làm đúng chính sách.
- Xử phạt vi phạm:
- Hành vi khai man: Buộc khai lại, truy thu đủ thuế và bị phạt tiền hoặc thóc tương đương số thuế gian lậu.
- Hành vi chậm nộp: Phạt tiền hoặc thóc tương đương số thuế còn thiếu.
- Đối với cán bộ vi phạm: Cán bộ cố tình khai man hoặc dây dưa không nộp thuế sẽ bị phạt gấp đôi mức phạt của người dân. Cán bộ tham ô, bao che, làm sai chính sách sẽ bị kỷ luật hoặc truy tố trước pháp luật.
- Hành vi chống phá: Mọi hành động phá hoại chính sách thuế nông nghiệp đều bị truy tố trước tòa án.
- Phạm vi thi hành: Điều lệ chỉ áp dụng tại những vùng đã thực hiện cải cách ruộng đất. Nương rẫy và ruộng đất thuộc các nông trường quốc doanh áp dụng chế độ thuế riêng. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn chi tiết thi hành điều lệ này.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | VIỆT |
| Số: 715-TTg | Hà Nội, ngày 24 tháng 03 năm 1956 |
Nông hộ là một đơn vị sản xuất nông nghiệp gồm những người làm chung, hưởng chung hoa lợi.
Nhân khẩu nông nghiệp là những người lấy hoa lợi nông nghiệp làm nguồn sống chính, không phân biệt gái, trai, già, trẻ.
Phàm đất đai có hoa lợi nông nghiệp thì người được hưởng hoa lợi phải đóng thuế, trừ những trường hợp miễn thuế quy định dưới đây.
Điều 4. Những đất đai dưới đây được miễn thuế hẳn:
- Đất đai chưa khai khẩn.
- Ruộng đất bỏ hoang có lý do chính đáng (nếu vì lười biếng mà bỏ hoang thì không được miễn).
- Vườn ươm giống, trạm thí nghiệm về nông nghiệp và lâm nghiệp của Nhà nước.
- Bãi cát, đồi trọc trồng cây gây rừng để ngăn gió, ngăn nước.
- Bãi cỏ chăn nuôi, ruộng đất do người chủ dùng vào việc làm gạch, làm ngói, làm đồ gốm, đúc khuôn, sân thể thao, thể dục, nghĩa địa.
- Ruộng đất do các nhà thương, trường học, nhà nuôi trẻ, trại an dưỡng, trại cải hối cày cấy để cải thiện sinh hoạt.
- Diện tích ruộng đất đào giếng, đào mương để chống hạn.
- Đất đai ở các đô thị đã chịu thuế thổ trạch.
- Đất ở gồm nền nhà, sân phơi, đường đi (đất chung quanh nhà nếu dưới 100m2 thì miễn thuế, nếu rộng quá 100m2 thì được miễn thuế 100m2).
- Ruộng chuyên để gieo mạ, thường năm không giồng cây.
- Những đất đai khác được Chính phủ đặc biệt miễn thuế.
Điều 5. Những đất đai dưới đây được miễn thuế trong một thời hạn:
- Đất hoang mở khai khẩn, được miễn thuế 5 năm, kể từ năm khai khẩn.
- Ruộng đất bỏ hoang từ 2 vụ trở lên mới phục hồi được miễn thuế 3 năm.
Đối với đất trồng các thứ hoa màu khác (bông, lạc, đỗ, mía, v.v…) nếu nguyên là ruộng cấy lúa thì định sản lượng theo ruộng cấy lúa, nếu nguyên là đất trồng màu thì định sản lượng theo đất trồng ngô, khoai, sắn.
Nếu Chính phủ và nhân dân cùng làm thì trong 3 năm không tăng thuế. Nếu Chính phủ làm thì trong một năm không tăng thuế.
(Trường hợp phục hồi hay tu bổ những công trình thủy lợi cũ thì không áp dụng điều 10 này).
Việc quy định vùng nào có sản vật đặc biệt do Ủy ban hành chính tỉnh đề nghị, Ủy ban hành chính khu quyết định.
Ngoài những vùng đã quy định là có sản vật đặc biệt thì đất trồng những loại cây trên vẫn tính sản lượng thường năm theo ruộng đất chung quanh và gộp với hoa lợi ruộng đất để tính thuế theo biểu thuế chung.
Đối với những hồ ao chuyên trồng rau, thả sen hay thả cá, thì định sản lượng ruộng đất mà tính thuế theo thuế biểu chung.
Những hồ ao chủ yếu dùng để trữ nước chống hạn hay ruộng đất rửa ráy và những hồ ao thả bèo làm phân bón hay thả rau để chăn nuôi súc vật thì miễn thuế.
Điều 13. Mỗi người chỉ được tính nhân khẩu nông nghiệp một lần ở một nơi.
Khi tính nhân khẩu nông nghiệp thì tính số người hiện có trong nông hộ lúc kê khai.
Những người ở thuê không tính nhân khẩu nông nghiệp ở nhà chủ mà tính nhân khẩu nông nghiệp ở nhà mình.
Những nông hộ nhận nuôi những người tàn tật, những người cô đơn không có nơi nương tựa thì được tính những người đó vào nhân khẩu nông nghiệp của nông hộ mình.
Đối với những nông hộ vừa làm ruộng, vừa làm muối thì cứ 500 m2 ruộng muối coi như có một người chuyên sống về nghề làm muối và không tính vào nhân khẩu nông nghiệp.
Cán bộ, công nhân viên được hưởng lương, học sinh các trường học được Chính phủ đài thọ hoàn toàn, không được tính nhân khẩu nông nghiệp.
Tù nhân đã thành án, sống trong trại cải hối, không được tính nhân khẩu nông nghiệp, nếu chưa thành án thì vẫn được tính.
- Bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương tại ngũ (nữ quân nhân có chồng muốn tính nhân khẩu nông nghiệp ở nhà chồng hay nhà bố mẹ đẻ thì tùy ý).
- Thương bệnh binh ở trại an dưỡng, thương binh chuyển sang công tác ở các ngành khác.
- Những người đã hy sinh vì cách mạng kể từ năm 1930, những người đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ kháng chiến.
- Bộ đội chuyển ngành được tính nhân khẩu nông nghiệp trong 2 năm, kể từ khi rời hàng ngũ bộ đội.
Điều 17. Biểu thuế nông nghiệp, gồm cả chính tang và phụ thu, ấn định như sau:
| BẬC | HOA LỢI BÌNH QUÂN MỘT NHÂN KHẨU NÔNG NGHIỆP | THUẾ SUẤT CẢ CHÍNH TANG VÀ PHỤ THU |
| 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 | Từ 60 ki-lô trở xuống Từ trên 60 ki-lô đến 80 ki-lô - 80 - - 100 - - 100 - - 140 - - 140 - - 180 - - 180 - - 220 - - 220 - - 260 - - 260 - - 300 - - 300 - - 340 - - 340 - - 380 - - 380 - - 420 - - 420 - - 460 - - 460 - - 500 - - 500 - - 540 - - 540 - - 580 - - 580 - - 620 - - 620 - - 660 - - 660 - - 700 - - 700 - - 740 - - 740 - - 780 - - 780 - - 820 - - 820 - - 860 - - 860 - - 900 - - 900 - - 940 - - 940 - - 980 - - 980 - -1020 - - 1020 - -1060 - Từ trên 1060 trở lên | Miễn thuế 7 % 8 - 9 - 10 - 11 - 12 - 13 - 14 - 15 - 16 - 17 - 18 - 19 - 20 - 21 - 22 - 23 - 24 - 25 - 26 - 27 - 28 - 29 - 31 - 33 - 35 - 37 - |
Nếu các đoàn thể, các tổ đội công nhân cày cấy các loại ruộng đất nói trên để làm quỹ chung, thì thuế tính theo hộ độc lập và theo thuế biểu chung.
Nếu chính quyền có thu một phần hoa lợi vào các loại ruộng đất nói trên thì chính quyền nộp thuế 10% phần hoa lợi thu được, người cày cấy chỉ phải nộp thuế vào phần hoa lợi còn lại.
Điều 22. Đối với hợp tác xã nông nghiệp, thuế tính như sau:
- Nếu xã viên góp ruộng đất vào hợp tác xã và có hưởng một phần hoa lợi thì ruộng nhà ai vẫn tính nguyên sản lượng vào nhà đó để nộp thuế theo thuế biểu chung.
- Nếu hợp tác xã nhận cày cấy các loại ruộng đất dự trữ, ruộng đất chia treo giò, ruộng đất vắng chủ, thì thuế do hợp tác xã nộp, thuế suất là 12%.
Số thuế được giảm, miễn đối với từng nông hộ quy định như sau:
Thiệt hại dưới 20% tổng số hoa lợi chịu thuế: không giảm thuế.
| Thiệt hại từ 20% đến dưới 25% - 25% - 30% - 30% - 35% - 35% - 40% - 40% - 50% - 50% - 60% | tổng số hoa lợi chịu thuế giảm : 20% - - : 25% - - : 30% - - : 40% - - : 50% - - : 70% |
| - 60% tổng số hoa lợi chịu thuế trở lên: miễn hẳn thuế | |
Nếu tích cực chống thiên tai, dù mức thiệt hại có ít hơn cũng được tính theo mức thiệt hại chung. Ngược lại, nếu lười biếng, không chăm lo, dù mức thiệt hại có nhiều hơn, cũng vẫn tính theo mức thiệt hại chung.
Trường hợp một vùng bị thiên tai đặc biệt nghiêm trọng, thiệt hại nặng nề, Ủy ban hành chính tỉnh có thể đề nghị giảm hoặc miễn thuế cho cả vùng.
Những đề nghị giảm miễn trong cả hai trường hợp trên đều phải do Bộ Tài chính chuẩn y trước khi thi hành.
Đề nghị giảm, miễn trên phải do Ủy ban hành chính tỉnh chuẩn y trước khi thi hành.
Việc định giá thóc để thu thuế, việc định tỷ lệ các nông sản khác ra thóc để thu thuế do Bộ Tài chính quy định.
Điều 31. Mỗi nông hộ có nhiệm vụ:
1) Kê khai đúng số nhân khẩu nông nghiệp, diện tích và sản lượng.
2) Nộp đủ thuế đúng hạn; thóc nộp phải khô, sạch, không ẩm ướt, lẫn sạn cát.
3) Chuyển thóc thuế đến kho trong phạm vi 15 cây số một lượt; nếu kho xa quá 15 cây số thì được trả thù lao từ cây số thứ 16 trở đi.
Ban thuế nông nghiệp do Ủy ban hành chính và nông hội xã tổ chức.
Thành phần Ban thuế nông nghiệp gồm:
- Chủ tịch hay Phó chủ tịch UBHC xã: Trưởng ban
- Một đại diện Ban chấp hành nông hội xã: Phó trưởng ban
- Cán bộ phụ trách địa bạ xã: Thư ký
- Mỗi thôn một đại biểu: Ủy viên.
Bộ phận thường trực của Ban thuế nông nghiệp là Trưởng ban, Phó trưởng ban và thư ký.
Nhiệm vụ của Ban thuế nông nghiệp là :
- Tuyên truyền giải thích chính sách trong nhân dân.
- Điều tra và tổ chức nông nghiệp bình nghị kê khai; kiểm soát diện tích, sản lượng, nhân khẩu của mỗi nông hộ.
- Tính thuế và lập sổ thuế.
- Tổ chức và đôn đốc việc thu thuế, kiểm soát phẩm chất thóc.
- Giữ tài liệu, sổ sách về thuế nông nghiệp.
Điều 34. Những người đủ tiêu chuẩn dưới đây sẽ được khen thưởng:
- Những người kê khai thành thật, hăng hái nộp đủ thuế đúng hạn, nộp thóc khô, sạch, tốt, có ý thức bảo vệ kho tàng, có tác dụng gương mẫu.
- Cán bộ tích cực công tác, chí công vô tư, chấp hành đúng chính sách, tác phong tốt, có nhiều sáng kiến.
Những người cố tình dây dưa không nộp thuế đúng hạn có thể bị phạt một số thóc hay tiền ngang số thuế thiếu.
Trong cả hai trường hợp trên, nếu người phạm lỗi là cán bộ thì bị phạt gấp đôi.
Điều 38. Điều lệ này chỉ thi hành ở những nơi đã cải cách ruộng đất.
Điều 40. Chi tiết thi hành điều lệ này do Bộ Tài chính quy định.
Ban hành chiếu theo nghị quyết của Hội đồng Chính phủ trong phiên họp ngày 22 tháng 3 năm 1956
|
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
- 1 Thông tư 120-TTg năm 1963 về chủ trương ổn định nghĩa vụ thuế nông nghiệp trong ba năm 1963, 1964, 1965 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2 Chỉ thị 515-TTg về thuế nông nghiệp năm 1957 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3 Sắc lệnh số 40/SL về việc ban hành điều lệ tạm thời thuế nông nghiệp do Chủ tịch nước ban hành
- 4 Pháp lệnh Thuế Nông nghiệp năm 1983 do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 5 Chỉ thị 461-TTg về thuế nông nghiệp vụ đông 1957 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 1 Thông tư 120-TTg năm 1963 về chủ trương ổn định nghĩa vụ thuế nông nghiệp trong ba năm 1963, 1964, 1965 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2 Thông tư 127-BTC/NN năm 1958 giải thích thêm về cách thi hành điều lệ thuế nông nghiệp do Bộ Tài Chính ban hành
- 3 Thông tư 242-BTC-NN năm 1956 về việc miễn thuế nông nghiệp cho những ruộng trồng cỏ do Bộ Tài Chính ban hành
- 4 Chỉ thị 515-TTg về thuế nông nghiệp năm 1957 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 5 Sắc lệnh số 40/SL về việc ban hành điều lệ tạm thời thuế nông nghiệp do Chủ tịch nước ban hành
- 6 Pháp lệnh Thuế Nông nghiệp năm 1983 do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 7 Chỉ thị 461-TTg về thuế nông nghiệp vụ đông 1957 do Thủ tướng Chính phủ ban hành