Ngày 11 tháng 3 năm 1982, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Chỉ thị số 55-CT về việc đẩy mạnh khai thác than địa phương. Đây là một văn bản pháp lý quan trọng nhằm giải quyết nhu cầu chất đốt phục vụ sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và đời sống sinh hoạt của nhân dân, đồng thời giảm bớt áp lực cung ứng và vận chuyển cho nguồn than quản lý tập trung của Trung ương trong bối cảnh nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn.
Phạm vi áp dụng của Chỉ thị bao gồm toàn bộ các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có tiềm năng về tài nguyên than, bao gồm cả than đá, than gầy, than nâu và than bùn. Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp là Ủy ban nhân dân các cấp, Bộ Mỏ và Than, các Bộ quản lý ngành liên quan và các cơ sở sản xuất, khai thác than tại địa phương.
Mục tiêu và định hướng phát triển khai thác than địa phương
- Tận dụng triệt để các nguồn tài nguyên than quy mô nhỏ, phân tán tại các địa phương để tự cân đối nhu cầu năng lượng tại chỗ, giảm thiểu việc vận chuyển than từ các mỏ lớn ở Trung ương đi các tỉnh xa.
- Phát triển mạnh mẽ phong trào khai thác than bùn, than nâu để làm chất đốt sinh hoạt cho nhân dân và phục vụ các ngành sản xuất vật liệu xây dựng địa phương như sản xuất gạch, ngói, vôi.
Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố
- Chủ trì phối hợp với Bộ Mỏ và Than tiến hành điều tra, khảo sát, đánh giá trữ lượng và chất lượng các điểm mỏ than hiện có trên địa bàn quản lý.
- Xây dựng quy hoạch, kế hoạch khai thác cụ thể theo từng năm và dài hạn, ưu tiên áp dụng các phương pháp khai thác thủ công kết hợp bán cơ giới phù hợp với trình độ kỹ thuật và năng lực tài chính của địa phương.
- Tổ chức, quản lý chặt chẽ lực lượng lao động tham gia khai thác than, bảo đảm thực hiện nghiêm túc các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động và bảo vệ môi trường xung quanh khu vực khai thác.
Vai trò phối hợp và hỗ trợ kỹ thuật của Bộ Mỏ và Than
- Cung cấp đầy đủ các tài liệu địa chất, hướng dẫn quy trình kỹ thuật khai thác, thiết kế mỏ đơn giản và các biện pháp an toàn kỹ thuật cho các địa phương.
- Hỗ trợ đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, kỹ thuật và công nhân lành nghề cho các cơ sở khai thác than địa phương.
- Cung ứng các loại thiết bị, vật tư chuyên dùng phục vụ khai thác mỏ mà địa phương không tự sản xuất được, đồng thời tăng cường công tác kiểm tra, giám sát kỹ thuật để tránh thất thoát tài nguyên.
Chính sách đầu tư, giá cả và phân phối tiêu thụ sản phẩm
- Khuyến khích các địa phương chủ động tự cân đối nguồn vốn đầu tư từ ngân sách địa phương, vốn tự có của các hợp tác xã hoặc các nguồn vốn hợp pháp khác để phát triển các mỏ than quy mô nhỏ.
- Xây dựng cơ chế giá bán than địa phương linh hoạt, bảo đảm bù đắp chi phí sản xuất thực tế, có tích lũy hợp lý để duy trì và mở rộng sản xuất, đồng thời phù hợp với sức mua của người dân địa phương.
- Sản phẩm than khai thác được ưu tiên phân phối tại chỗ để phục vụ nhu cầu dân sinh và sản xuất của địa phương. Chỉ thực hiện điều phối ra ngoài tỉnh hoặc nộp về Trung ương khi đã bảo đảm đủ nhu cầu tiêu dùng nội tỉnh và có sự đồng ý của cơ quan quản lý cấp trên.
Chỉ thị số 55-CT có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nghiêm túc các nội dung của Chỉ thị này.
| CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 55-CT | Hà Nội, ngày 17 tháng 3 năm 1982 |
VỀ VIỆC ĐẨY MẠNH KHAI THÁC THAN ĐỊA PHƯƠNG
Trong các năm qua, với sự giúp đỡ của Bộ Mỏ và than, các tỉnh Hải Hưng, Hà Bắc, Hà Sơn Bình, Hoàng Liên Sơn, Quảng Nam - Đà Nẵng... đã có nhiều cố gắng duy trì và phát triển sản xuất than đáp ứng được một phần nhu cầu của địa phương. Số mỏ than địa phương từ 5 mỏ với tổng sản lượng 50 ngàn tấn (năm 1975), tăng lên 20 mỏ với tổng sản lượng 150 ngàn tấn (năm 1980). Tuy vậy than địa phương vẫn chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng và hiệu quả của nó. Nguyên nhân chủ yếu là do chưa có chính sách khuyến khích phù hợp, chưa có chủ trương đầu tư và trang bị kĩ thuật thoả đáng, việc quản lí theo ngành chưa đi vào nề nếp.
Trong kế hoạch 5 năm 1981 - 1985, nhu cầu than trong nước và xuất khẩu ngày càng tăng, trong khi đó việc phát triển khai thác than trung ương cũng như việc vận chuyển than cho các địa phương còn gặp nhiều khó khăn. Để tăng thêm nguồn than địa phương phục vụ sản xuất và đời sống, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng chỉ thị:
1. Các tỉnh phải tận dụng lao động tại chỗ và điều kiện sẵn có của địa phương đẩy mạnh việc khai thác than trên cơ sở thủ công kết hợp với một phần cơ giới, đặc biệt chú trọng việc khai thác than bùn và than nâu, cụ thể là:
a) Đối với các mỏ than sẵn có phải có biện pháp khôi phục, và tăng sản lượng khai thác để đạt công suất thiết kế hoặc năng lực khai thác tối đa.
b) Đối với những điểm than chưa khai thác, nếu có đủ điều kiện khai thác phải chủ động bố trí kế hoạch đầu tư xây dựng để tổ chức khai thác. Đối với những điểm than chưa đủ điều kiện khai thác phải có kế hoạch thăm dò, lập báo cáo kinh tế kĩ thuật để bố trí kế hoạch đầu tư xây dựng mỏ và đưa vào thiết kế khai thác.
Ở các tỉnh có nhiều điểm than chưa khai thác mà tỉnh không đủ lực lượng để tổ chức khai thác được hết thì Bộ Mỏ và than cùng Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước bàn với tỉnh có mỏ giao cho các tỉnh lân cận đưa lực lượng đến tổ chức khai thác.
2. Các ngành ở trung ương tuỳ theo chức năng có nhiệm vụ giúp đỡ các địa phương trong việc khai thác than địa phương.
- Tổng cục Địa chất có trách nhiệm thăm dò bổ sung các điểm than mới được điều tra sơ bộ để sớm xác định trữ lượng đưa vào khai thác, chú trọng tìm kiếm, thăm dò thêm các điểm than mới ở Trung bộ và Nam bộ.
- Bộ Tài chính, Uỷ ban Vật giá Nhà nước có trách nhiệm giải quyết các vấn đề về vốn, giá cả trên tinh thần khuyến khích khai thác than địa phương.
- Uỷ ban Khoa học và kĩ thuật Nhà nước có trách nhiệm xem xét bảo vệ môi trường để việc khai thác than bùn ở các địa phương không ảnh hưởng đến nông và lâm sinh.
Nếu than địa phương sản xuất được đủ tiêu chuẩn xuất khẩu thì địa phương được nhờ Bộ Mỏ và than xuất khẩu một phần số than đó để lấy ngoại tệ. Từ đầu năm, các tỉnh cần đăng kí trước với Bộ Mỏ và than của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước số than sẽ xuất khẩu.
Số ngoại tệ thu được về xuất khẩu số than nói trên sau khi nộp lệ phí xuất khẩu, địa phương được quyền sử dụng ngoại tệ theo quy định hiện hành. Đối với các tỉnh khai thác than mỡ và luyện được cốc, số than này phải đưa toàn bộ vào cân đối trong kế hoạch Nhà nước. Nhà nước sẽ mua theo giá trị nhập khẩu, trả một phần ba (1/3) bằng ngoại tệ hoặc đổi bằng than antraxit tính theo giá xuất nhập khẩu của hai loại than này.
Đối với các tỉnh có điểm than đã được đầu tư khai thác mà không khai thác, thì Bộ Mỏ và than cùng Uỷ ban kế hoạch Nhà nước sẽ trừ vào chỉ tiêu than mà Nhà nước phải cung ứng cho tỉnh số than mà tỉnh có thể khai thác được.
Bộ trưởng Bộ Mỏ và than xây dựng và ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện Chỉ thị này.
|
| Tố Hữu (Đã ký)
|