Ngày 18 tháng 11 năm 1994, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 668-TTg về việc thực hiện chế độ nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức. Chỉ thị này được ban hành nhằm chấn chỉnh công tác quản lý nhân sự, bảo đảm thực hiện nghiêm túc, thống nhất chế độ nghỉ hưu trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp và các tổ chức chính trị - xã hội, góp phần trẻ hóa đội ngũ cán bộ và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Chỉ thị áp dụng đối với toàn bộ cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương, các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể hưởng lương từ ngân sách nhà nước đã đến tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật lao động và các văn bản pháp lý liên quan.
- Thực hiện nghiêm túc quy định về tuổi nghỉ hưu
- Cán bộ, công chức nam đủ 60 tuổi và nữ đủ 55 tuổi có đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội hoặc thời gian công tác theo quy định phải được giải quyết nghỉ hưu đúng thời hạn.
- Nghiêm cấm việc tự ý kéo dài thời gian làm việc của cán bộ, công chức đã đến tuổi nghỉ hưu khi chưa được sự đồng ý của cấp có thẩm quyền.
- Đối với những trường hợp đặc biệt cần kéo dài thời gian công tác (như chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học có trình độ cao, người đảm nhận các vị trí đặc thù không thể thay thế ngay), các bộ, ngành, địa phương phải lập phương án cụ thể và trình Thủ tướng Chính phủ hoặc cơ quan quản lý cán bộ có thẩm quyền xem xét, quyết định.
- Quy trình và thủ tục giải quyết chế độ nghỉ hưu
- Cơ quan quản lý cán bộ, công chức có trách nhiệm rà soát, lập danh sách những người chuẩn bị đến tuổi nghỉ hưu trước ít nhất 6 tháng để chủ động chuẩn bị nhân sự thay thế và làm các thủ tục cần thiết.
- Thông báo bằng văn bản cho cán bộ, công chức biết trước 6 tháng về thời điểm nghỉ hưu để họ chuẩn bị bàn giao công việc.
- Ra quyết định nghỉ hưu chính thức trước 3 tháng tính đến ngày cán bộ, công chức thực tế nghỉ việc để hưởng chế độ hưu trí.
- Phối hợp chặt chẽ với cơ quan bảo hiểm xã hội để giải quyết nhanh chóng, đầy đủ các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội cho người lao động khi nghỉ hưu, tránh gây phiền hà, chậm trễ.
- Trách nhiệm của các Bộ, ngành và địa phương
- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm trực tiếp trước Thủ tướng Chính phủ về việc tổ chức thực hiện chỉ thị này tại bộ, ngành, địa phương mình.
- Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chế độ nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức trong cả nước; định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện.
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đối với người nghỉ hưu theo đúng quy định của Bộ luật Lao động.
Hiệu lực thi hành
Chỉ thị 668-TTg có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành (ngày 18 tháng 11 năm 1994). Các quy định trước đây trái với Chỉ thị này đều bãi bỏ. Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm khẩn trương rà soát và thực hiện nghiêm túc các nội dung được nêu trong Chỉ thị.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 668-TTg | Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 1994 |
CHỈ THỊ
VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG VIỆC THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ NGHỈ HƯU ĐỐI VỚI CÁN BỘ, VIÊN CHỨC
Hiện nay, cán bộ cao cấp do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm và quản lý có nhiều đồng chí đã đến tuổi nghỉ hưu những vấn tiếp tục công tác (chiếm gần 20% cấp Bộ trưởng, Thứ trưởng và tương đương). ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cũng còn nhiều cán bộ, viên chức đã đến tuổi nghỉ hưu nhưng vẫn đang công tác. Trong số này, nhiều đồng chí sức khoẻ giảm sút, năng lực công tác bị hạn chế nhưng vẫn phải làm việc, ảnh hưởng đến việc bố trí, sắp xếp và trẻ hoá đội ngũ cán bộ.
Để thực hiện đúng chính sách, chế độ đối với cán bộ, viên chức; đảm bảo tốt việc chuyển tiếp giữa các hệ, nhất là đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các đồng chí Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện các việc sau đây:
1- Vào đầu quý 4 hàng năm, tiến hành lập danh sách cán bộ, viên chức đến tuổi nghỉ hưu của năm sau (60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ). Cán bộ, viên chức thuộc cấp nào quyết định nghỉ hưu thì Thủ trưởng cấp đó thông báo trước 6 tháng chuẩn bị người thay thế, bàn giao công việc, giải quyết các chế độ, chính sách, phân công gặp gỡ và quyết định để cán bộ, viên chức nghỉ hưu theo đúng chính sách, chế độ hiện hành.
Đối với cán bộ, viên chức do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm và quản lý thì lập danh sách trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. Trong trường hợp đặc biệt cần thiết, do yêu cầu công tác, bản thân cán bộ, viên chức có sức khoẻ, tự nguyện làm việc (nhất là cán bộ cao cấp về khoa học kỹ thuật, y học, nghiên cứu lý luận, cán bộ quản lý...) thì có thể kéo dài thêm thời gian công tác, song chỉ làm việc chuyên môn, nghiệp vụ mà không giữ chức vụ lãnh đạo, thời gian kéo dài không quá 5 năm so với tuổi quy định nghỉ hữu và phát được Thủ tướng Chính phủ đồng ý.
Cán bộ, viên chức các cấp, khi đã có quyết định nghỉ hưu thì sau 3 tháng cơ quan quản lý cán bộ, viên chức phải làm xong sổ hưu để cơ quan bảo hiểm trả lương theo chế độ. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội sớm nghiên cứu, trình Chính phủ sửa đổi những điểm bất hợp lý của Nghị định số 43-CP ngày 22-6-1993 về quy định tạm thời chế độ bảo hiểm xã hội. Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ và Bộ Tài chính có trách nhiệm quản lý biên chế và quỹ lương theo đúng tinh thần trên đây.
2- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức thực hiện Chỉ thị này ngay trong quý 4 năm 1994; tiến hành lập danh sách cán bộ, viên chức thuộc diện Thủ tướng bổ nhiệm và quản lý đã đến tuổi hoặc quá tuổi nghỉ hưu trình Thủ tướng Chính phủ.
Bộ trưởng, Trưởng ban Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ chịu trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện nghiêm chỉnh Chỉ thị này.
|
| Võ Văn Kiệt (Đã ký) |
- 1 Công văn số 1010/BNV-CCVC của Bộ Nội vụ về việc thực hiện chế độ nghỉ hưu đối với viên chức lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp Nhà nước.
- 2 Nghị định 29-CP năm 1996 về chế độ nghỉ hưu do sắp xếp tổ chức và nhân sự
- 3 Thông tư 223/TT-LB-1996 hướng dẫn chế độ nghỉ hưu do sắp xếp tổ chức và nhân sự do Ban tổ chức cán bộ Chính phủ - Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội- Bộ tài chính ban hành
- 4 Thông tư 88/TBXH-1982 hướng dẫn thi hành Nghị định 189/HĐBT-1982 về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hết hạn tuổi phục vụ tại ngũ được hưởng chế độ nghỉ hưu do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành
- 5 Quyết định 92-HĐBT năm 1984 về chế độ nghỉ hưu sau khi đẻ đối với nữ công nhân viên chức Nhà nước do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 6 Chỉ thị 18/2002/CT-TTg thực hiện nghiêm chỉnh các Quyết định của Đảng về công tác cán bộ, các quy định của pháp luật về nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức, viên chức nhà nước do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 7 Nghị định 143/2007/NĐ-CP về thủ tục thực hiện nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức đủ điều kiện nghỉ hưu
- 1 Công văn số 1010/BNV-CCVC của Bộ Nội vụ về việc thực hiện chế độ nghỉ hưu đối với viên chức lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp Nhà nước.
- 2 Nghị định 29-CP năm 1996 về chế độ nghỉ hưu do sắp xếp tổ chức và nhân sự
- 3 Thông tư 223/TT-LB-1996 hướng dẫn chế độ nghỉ hưu do sắp xếp tổ chức và nhân sự do Ban tổ chức cán bộ Chính phủ - Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội- Bộ tài chính ban hành
- 4 Thông tư 88/TBXH-1982 hướng dẫn thi hành Nghị định 189/HĐBT-1982 về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam hết hạn tuổi phục vụ tại ngũ được hưởng chế độ nghỉ hưu do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành
- 5 Quyết định 92-HĐBT năm 1984 về chế độ nghỉ hưu sau khi đẻ đối với nữ công nhân viên chức Nhà nước do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 6 Chỉ thị 18/2002/CT-TTg thực hiện nghiêm chỉnh các Quyết định của Đảng về công tác cán bộ, các quy định của pháp luật về nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức, viên chức nhà nước do Thủ tướng Chính phủ ban hành