Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Giới thiệu chung về Công ước số 100 năm 1951

Công ước số 100 năm 1951 là một trong những văn kiện pháp lý quốc tế nền tảng của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), hướng tới việc thúc đẩy và bảo đảm nguyên tắc trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau. Dưới đây là phần tóm tắt chi tiết và phân tích chuyên sâu các nội dung cốt lõi của Công ước dựa trên các điều khoản được cung cấp.

1. Giải thích các thuật ngữ cốt lõi (Điều 1)

Để đảm bảo việc áp dụng thống nhất và hiệu quả trên quy mô quốc tế, Công ước đưa ra định nghĩa pháp lý rõ ràng cho hai khái niệm then chốt:

  • Thuật ngữ "trả công": Được hiểu theo nghĩa rộng nhất, bao gồm tiền lương hoặc tiền đãi ngộ bình thường, cơ bản hoặc tối thiểu. Khái niệm này cũng bao gồm mọi khoản thù lao khác được trả trực tiếp hoặc gián tiếp, bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật, do người sử dụng lao động trả cho người lao động và phát sinh từ việc làm của người lao động đó.
  • Thuật ngữ "trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau": Khẳng định các mức trả công phải được ấn định một cách công bằng, hoàn toàn không có sự phân biệt đối xử dựa trên yếu tố giới tính.

2. Nguyên tắc và phương thức áp dụng (Điều 2)

Công ước quy định rõ nghĩa vụ của các quốc gia thành viên cũng như các con đường để hiện thực hóa nguyên tắc bình đẳng trong lao động:

  • Nghĩa vụ của quốc gia thành viên: Mỗi nước thành viên, bằng các biện pháp phù hợp với phương pháp ấn định mức trả công hiện hành, có trách nhiệm khuyến khích và bảo đảm việc áp dụng nguyên tắc trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ đối với một công việc có giá trị ngang nhau cho mọi người lao động.
  • Các phương thức áp dụng nguyên tắc: Nguyên tắc bình đẳng này có thể được triển khai linh hoạt thông qua một hoặc kết hợp các biện pháp sau:
    • Thông qua hệ thống pháp luật hoặc các pháp quy của quốc gia;
    • Thông qua các cơ chế ấn định việc trả công đã được thiết lập hoặc được thừa nhận theo quy định của pháp luật;
    • Thông qua các thỏa ước tập thể được ký kết giữa người sử dụng lao động và người lao động;
    • Bằng sự kết hợp giữa các loại biện pháp nêu trên.

3. Đánh giá khách quan công việc và sự chênh lệch hợp pháp (Điều 3)

Để tạo cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc trả công bình đẳng, Công ước đưa ra quy định về cơ chế đánh giá công việc:

  • Khuyến khích đánh giá khách quan: Các quốc gia cần áp dụng các biện pháp nhằm khuyến khích việc đánh giá công việc một cách khách quan, dựa trên chính những phần việc thực tế phải thực hiện trong công việc đó.
  • Thẩm quyền quyết định phương pháp đánh giá: Phương pháp đánh giá có thể do các cơ quan có thẩm quyền ấn định mức trả công quyết định, hoặc do các bên ký kết thỏa ước tập thể tự thỏa thuận và quyết định (nếu mức trả công được ấn định bằng thỏa ước tập thể).
  • Sự chênh lệch mức lương hợp pháp: Công ước làm rõ rằng, những trường hợp có sự chênh lệch về mức trả công giữa các người lao động mà không dựa trên giới tính, mà xuất phát từ sự khác biệt khách quan trong công việc đã được xác định qua quá trình đánh giá, thì hoàn toàn không bị coi là vi phạm nguyên tắc trả công bình đẳng.

4. Cơ chế hợp tác và các điều khoản thi hành (Điều 4 và các điều khoản khác)

Sự thành công của việc thực thi Công ước đòi hỏi sự đồng lòng và phối hợp chặt chẽ giữa các bên trong quan hệ lao động:

  • Hợp tác ba bên (Điều 4): Mỗi nước thành viên sẽ chủ động cộng tác với các tổ chức đại diện của người sử dụng lao động và người lao động để triển khai thực hiện có hiệu quả các quy định của Công ước này trên thực tế.
  • Các điều khoản về lãnh thổ (Điều 7 và Điều 8): Quy định về việc tuyên bố áp dụng Công ước đối với các lãnh thổ phi chính quốc thuộc quyền quản lý của quốc gia thành viên.
  • Các điều khoản cuối cùng (Điều 5, Điều 6 và từ Điều 9 đến Điều 14): Đây là các điều khoản mẫu quy định về thủ tục phê chuẩn, hiệu lực, bãi bỏ và các vấn đề hành chính khác của Công ước.

CÔNG ƯỚC SỐ 100

CÔNG ƯỚC

VỀ TRẢ CÔNG BÌNH ĐẲNG GIỮA LAO ĐỘNG NAM VÀ LAO ĐỘNG NỮ CHO MỘT CÔNG VIỆC CÓ GIÁ TRỊ NGANG NHAU, 1951

Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế;

Được Hội đồng quản trị của Văn phòng Lao động quốc tế triệu tập tại Giơ-ne-vơ ngày 6 tháng 6 năm 1951, trong kỳ họp thứ ba mươi tư, và

Sau khi đã quyết định chấp thuận một số đề nghị về nguyên tắc trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau, là vấn đề thuộc điểm thứ bảy trong chương trình nghị sự kỳ họp, và

Sau khi đã quyết định rằng những đề nghị đó sẽ mang hình thức một Công ước quốc tế,

Thông qua ngày 29 tháng 6 năm 1951, Công ước dưới đây, gọi là Công ước về Trả công bình đẳng, 1951.

Điều 1

Trong Công ước này, các thuật ngữ dưới đây được hiểu như sau:

a) “trả công” bao gồm tiền lương hoặc tiền đãi ngộ bình thường, cơ bản hoặc tối thiểu, và mọi thù lao khác, được trả trực tiếp hoặc gián tiếp, bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật, do người sử dụng lao động trả cho người lao động và phát sinh từ việc làm của người này;

b) “trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau” là nói về các mức trả công được ấn định không phân biệt đối xử về giới tính.

Điều 2

1. Mỗi nước thành viên, bằng những biện pháp thích hợp với các phương pháp hiện hành trong việc ấn định mức trả công, phải khuyến khích, và trong chừng mực phù hợp với các phương pháp ấy, bảo đảm việc áp dụng cho mọi người lao động nguyên tắc trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ đối với một công việc có giá trị ngang nhau.

2. Nguyên tắc này có thể được áp dụng:

a) bằng pháp luật hoặc pháp quy;

b) hoặc bằng mọi cơ chế ấn định việc trả công đã được thiết lập hay công nhận theo pháp luật;

c) hoặc bằng các thỏa ước tập thể mà người sử dụng lao động và người lao động đã cùng nhau ký kết;

d) hoặc bằng sự kết hợp những loại biện pháp đó.

Điều 3

1. Những biện pháp đó có thể tạo điều kiện dễ dàng cho việc áp dụng Công ước này, thì phải sử dụng các biện pháp nhằm khuyến khích việc đánh giá một cách khách quan các việc làm, căn cứ trên những công việc phải thực hiện trong các việc làm ấy.

2. Những phương pháp cần được áp dụng để tiến hành việc đánh giá nói trên có thể được quyết định bởi các cơ quan có thẩm quyền trong việc ấn định mức trả công, hoặc bởi các bên ký kết thỏa ước, nếu mức trả công được ấn định bằng thỏa ước tập thể.

3. Những mức trả công chênh lệch giữa người lao động không xét theo giới tính, mà là tương ứng với những khác biệt trong công việc phải làm đã được xác định bằng việc đánh giá khách quan nói trên, thì sẽ không được coi là trái với nguyên tắc trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau.

Điều 4

Mỗi Nước thành viên sẽ tùy nghi cộng tác với các tổ chức hữu quan của người sử dụng lao động và của người lao động để thực hiện có hiệu quả những quy định của Công ước này.

Các Điều 5, 6 và từ 9 đến 14

Những quy định cuối cùng mẫu.

Các Điều 7 và 8

Tuyến bố áp dụng cho các lãnh thổ phi chính quốc.

account_tree

Lược đồ văn bản đang được cập nhật.

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Công ước 100 năm 1951 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau

Số hiệu: 100
Loại văn bản: Điều ước quốc tế
Ngày ban hành: 29/06/1951
Nơi ban hành: ***
Người ký: ***
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: Đang cập nhật
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Lao động - Tiền lương
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Công ước 100 năm 1951 về trả công bình đẳng g...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký