TÓM TẮT CÔNG ƯỚC VỀ TUỔI LAO ĐỘNG TỐI THIỂU, 1973 (CÔNG ƯỚC SỐ 138 CỦA ILO)
Công ước về tuổi lao động tối thiểu năm 1973 là một văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) nhằm xóa bỏ hiệu quả lao động trẻ em và nâng dần độ tuổi tối thiểu tham gia lao động, bảo đảm sự phát triển toàn diện về thể chất và trí lực cho thanh thiếu niên.
1. Cam kết tổng quát và chính sách quốc gia (Điều 1)
Các Quốc gia thành viên cam kết theo đuổi chính sách quốc gia nhằm xóa bỏ lao động trẻ em và nâng dần độ tuổi lao động tối thiểu tới mức thanh thiếu niên đạt được sự phát triển đầy đủ nhất về thể chất và trí lực.
2. Quy định độ tuổi lao động tối thiểu chung (Điều 2)
- Nguyên tắc xác định: Quốc gia phải nêu rõ độ tuổi tối thiểu trong tuyên bố kèm văn bản phê chuẩn. Không ai dưới độ tuổi này được tuyển dụng hoặc làm việc trong bất kỳ nghề nào. Có thể thông báo nâng độ tuổi này lên cao hơn trong tương lai.
- Mức tuổi tiêu chuẩn: Độ tuổi tối thiểu không được thấp hơn độ tuổi kết thúc chương trình giáo dục bắt buộc và trong mọi trường hợp không được dưới 15 tuổi.
- Ngoại lệ cho quốc gia đang phát triển: Những nước có nền kinh tế và điều kiện giáo dục còn kém phát triển có thể xác định mức tuổi tối thiểu là 14 tuổi trong giai đoạn đầu (sau khi tham khảo ý kiến các tổ chức đại diện người lao động và người sử dụng lao động). Quốc gia áp dụng ngoại lệ này phải giải trình lý do hoặc thời hạn chấm dứt áp dụng trong các báo cáo định kỳ gửi ILO.
3. Độ tuổi đối với công việc nguy hiểm, độc hại (Điều 3)
- Độ tuổi tối thiểu: Mức tuổi lao động tối thiểu không được dưới 18 tuổi đối với bất kỳ công việc hoặc nghề nghiệp nào có thể gây hại cho sức khỏe, sự an toàn hoặc đạo đức của thanh thiếu niên.
- Thẩm quyền quy định: Danh mục công việc nguy hại phải được quy định trong pháp luật quốc gia hoặc do cơ quan có thẩm quyền xác định sau khi tham khảo ý kiến đại diện người lao động và người sử dụng lao động.
- Ngoại lệ đặc biệt: Cho phép tuyển dụng hoặc làm việc từ đủ 16 tuổi nếu bảo đảm đầy đủ về sức khỏe, an toàn, đạo đức và được hướng dẫn, đào tạo nghề cụ thể, thích đáng.
4. Giới hạn phạm vi áp dụng và loại trừ (Điều 4 & Điều 5)
- Loại trừ công việc đặc biệt (Điều 4): Cơ quan có thẩm quyền có thể loại trừ một số giới hạn công việc/nghề nghiệp gây khó khăn đặc biệt khi thi hành Công ước (ngoại trừ các công việc nguy hiểm thuộc Điều 3). Phải giải trình và báo cáo thực trạng trong các báo cáo nộp ILO.
- Giới hạn phạm vi ở các nước kém phát triển (Điều 5): Các quốc gia có nền kinh tế và quản lý hành chính chưa phát triển có thể giới hạn phạm vi áp dụng trong giai đoạn đầu. Tuy nhiên, phạm vi tối thiểu bắt buộc phải bao gồm: khai khoáng, sản xuất vật liệu, chế tạo, xây dựng, điện, khí đốt, nước, dịch vụ vệ sinh, vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc và các đồn điền/cơ sở nông nghiệp sản xuất hàng hóa thương mại (loại trừ nông nghiệp quy mô gia đình, tiêu dùng nội địa).
5. Các trường hợp ngoại lệ (Điều 6, Điều 7 & Điều 8)
- Hoạt động giáo dục và dạy nghề (Điều 6): Công ước không áp dụng đối với công việc do trẻ em/thiếu niên thực hiện tại trường phổ thông, cơ sở dạy nghề, thực hành kỹ thuật hoặc các chương trình hướng nghiệp do cơ quan thẩm quyền phê duyệt. Người từ đủ 14 tuổi làm việc trong các cơ sở này phải tuân thủ điều kiện quy định.
- Công việc nhẹ (Điều 7):
- Cho phép người từ 13 đến 15 tuổi làm các công việc nhẹ không hại sức khỏe/phát triển và không ảnh hưởng đến việc học tập, đào tạo nghề. Người từ 15 tuổi chưa xong giáo dục bắt buộc cũng được áp dụng.
- Đối với các quốc gia áp dụng mức tuổi tối thiểu 14 tuổi (theo Điều 2), độ tuổi làm công việc nhẹ có thể hạ xuống từ 12 đến 14 tuổi.
- Cơ quan có thẩm quyền quy định cụ thể danh mục công việc nhẹ, số giờ làm việc và điều kiện làm việc.
- Hoạt động nghệ thuật (Điều 8): Cơ quan thẩm quyền có thể cấp giấy phép lao động cho từng trường hợp cá nhân để tham gia các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, có giới hạn thời gian và điều kiện cụ thể.
6. Biện pháp bảo đảm thi hành và quản lý (Điều 9)
- Quốc gia phải áp dụng các biện pháp cần thiết, bao gồm cả chế tài thích đáng, để bảo đảm tuân thủ hiệu quả các quy định.
- Phân định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong việc tuân thủ Công ước.
- Yêu cầu người sử dụng lao động phải lập và xuất trình sổ đăng ký hoặc tài liệu ghi rõ tên, tuổi hoặc ngày sinh được xác minh của người lao động dưới 18 tuổi.
7. Mối quan hệ với các Công ước khác (Điều 10)
Công ước này thay thế và sửa đổi một chuỗi các Công ước về tuổi tối thiểu trước đó của ILO trong từng ngành cụ thể (như công nghiệp, hàng hải, nông nghiệp, đánh cá, làm việc dưới mặt đất...). Việc phê chuẩn Công ước này với mức tuổi nhất định sẽ tự động chấm dứt hiệu lực của các Công ước cũ tương ứng đối với quốc gia đó.
8. Các điều khoản thủ tục và hiệu lực (Điều 11 - Điều 18)
- Hiệu lực thi hành (Điều 12): Công ước có hiệu lực 12 tháng sau khi có 2 quốc gia đăng ký phê chuẩn với Tổng Giám đốc Văn phòng Lao động Quốc tế. Đối với các quốc gia phê chuẩn sau, hiệu lực bắt đầu sau 12 tháng kể từ ngày đăng ký.
- Rút khỏi Công ước (Điều 13): Quốc gia thành viên có thể tuyên bố rút khỏi Công ước sau từng chu kỳ 10 năm kể từ ngày Công ước có hiệu lực; thông báo rút có hiệu lực sau 1 năm.
- Nghĩa vụ báo cáo và lưu chiểu (Điều 14 - Điều 16): Tổng Giám đốc Văn phòng Lao động Quốc tế có trách nhiệm thông báo cho các Quốc gia thành viên và gửi đăng ký tới Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc. Hội đồng Quản trị ILO trình báo cáo đánh giá định kỳ về tình hình thực hiện.
- Sửa đổi Công ước (Điều 17): Trường hợp ILO thông qua Công ước mới sửa đổi Công ước này, việc phê chuẩn Công ước mới sẽ dẫn đến rút khỏi Công ước này, trừ khi Công ước mới có quy định khác.
- Ngôn ngữ (Điều 18): Bản tiếng Anh và tiếng Pháp của Công ước có giá trị pháp lý như nhau.
(Công ước số 138 của ILO. Việt Nam gia nhập ngày 24/6/2003).
HỘI NGHỊ TOÀN THỂ CỦA TỔ CHỨC LAO ĐỘNG QUỐC TẾ,
Được Hội đồng quản trị của Văn phòng Lao động quốc tế triệu tập tại Geneva ngày 06/7/1973, trong kỳ họp thứ năm mươi tám;
Đã quyết định thông qua một số đề xuất về tuổi tối thiểu được tuyển dụng vào làm việc là vấn đề thuộc điểm thứ tư trong chương trình nghị sự của Hội nghị;
Ghi nhận những điều khoản của Công ước về Tuổi tối thiểu (trong các công việc công nghiệp) năm 1919, Công ước về Tuổi tối thiểu (trong các công việc ngoài biển) năm 1920, Công ước về Tuổi tối thiểu (trong các công việc nông nghiệp) năm 1921, Công ước về Tuổi tối thiểu (trong các công việc dưới hầm tàu và đốt lò) năm 1921, Công ước về Tuổi tối thiểu (trong các công việc phi công nghiệp) năm 1932, Công ước về Tuổi tối thiểu (trong các công việc ngoài biển) (sửa đổi) năm 1936; Công ước về Tuổi tối thiểu (trong các công việc công nghiệp) (sửa đổi) năm 1937, Công ước về Tuổi tối thiểu (trong các công việc phi công nghiệp) (sửa đổi) năm 1937, Công ước về Tuổi tối thiểu (trong công việc đánh cá) năm 1959, và Công ước về Tuổi tối thiểu (trong các công việc dưới mặt đất) năm 1965, và
Xét rằng đã đến lúc phải xây dựng một văn kiện quốc tế chung về vấn đề này để từng bước thay thế các văn kiện hiện có được áp dụng trong các khu vực kinh tế nhất định, nhằm đạt được mục tiêu hủy bỏ hoàn toàn việc sử dụng lao động trẻ em, và
Sau khi đã quyết định rằng những đề xuất này sẽ được tập hợp dưới hình thức một Công ước quốc tế,
Thông qua vào ngày 26/7/1973 công ước dưới đây, gọi là Công ước về Tuổi lao động tối thiểu, 1973.
2. Các Quốc gia thành viên sau khi phê chuẩn Công ước này có thể có những tuyên bố mới để thông báo cho Tổng giám đốc Văn phòng Lao động quốc tế biết rằng nước mình đã nâng độ tuổi lao động tối thiểu lên cao hơn so với độ tuổi trước đó đã quy định.
3. Độ tuổi tối thiểu nêu trong khoản 1 điều này phải không được thấp hơn độ tuổi kết thúc chương trình giáo dục bắt buộc, và trong bất kỳ trường hợp nào cũng không được dưới 15 tuổi.
4. Mặc dầu có quy định tại khoản 3 điều này, những Quốc gia thành viên mà nền kinh tế và các điều kiện giáo dục còn kém phát triển thì sau khi tham khảo ý kiến của các tổ chức của người sử dụng lao động và của người lao động có liên quan có thể xác định mức tuổi lao động tối thiểu là 14 tuổi trong giai đoạn đầu.
5. Các Quốc gia thành viên đã quy định mức tuổi lao động tối thiểu là 14 tuổi theo khoản trên thì trong các báo cáo về việc áp dụng Công ước nộp theo quy định tại Điều 22 Điều lệ của Tổ chức Lao động quốc tế phải cho biết:
a. Lý do của việc vẫn quy định mức tuổi như vậy; hoặc
b. Tới thời điểm cụ thể nào họ sẽ thôi không áp dụng khoản 4 nói trên.
2. Những loại công việc hoặc nghề nghiệp nêu ở khoản 1 điều này phải được quy định trong các luật hoặc văn bản pháp quy quốc gia, hoặc do các nhà chức trách có thẩm quyền xác định, sau khi đã tham khảo ý kiến của các tổ chức của người sử dụng lao động và của người lao động có liên quan.
3. Mặc dù có quy định ở khoản 1 điều này, các luật hoặc văn bản pháp quy quốc gia hay các nhà chức trách có thẩm quyền vẫn có thể, sau khi tham khảo ý kiến các tổ chức của người sử dụng lao động và của người lao động có liên quan, cho phép việc tuyển dụng hoặc tham gia làm việc các thanh thiếu niên từ độ tuổi 16, với điều kiện là sức khỏe, sự an toàn và đạo đức của họ phải được bảo vệ đầy đủ và những thanh thiếu niên này phải được hướng dẫn hay đào tạo một cách cụ thể và thích đáng để làm các công việc tương ứng.
2. Các Quốc gia thành viên Công ước này, trong báo cáo đầu tiên về việc áp dụng công ước nộp theo quy định tại Điều 22 Điều lệ của Tổ chức Lao động quốc tế phải liệt kê những loại công việc hoặc nghề nghiệp nào là đối tượng được loại ra theo khoản 1 điều này và phải giải thích rõ về việc đó; trong những báo cáo tiếp theo sẽ phải mô tả tình hình pháp luật và thực tiễn nước mình liên quan đến những loại công việc hoặc nghề nghiệp bị loại trừ áp dụng đó cũng như mức độ ảnh hưởng của việc này đã xảy ra và có thể xảy ra với Công ước.
3. Những công việc hoặc nghề nghiệp nêu ở Điều 3 Công ước sẽ không được coi là đối tượng có thể bị loại trừ áp dụng theo quy định tại điều này.
2. Mọi Quốc gia thành viên muốn áp dụng khoản 1 điều này thì trong bản tuyên bố kèm theo văn bản phê chuẩn của mình phải ghi rõ những hoạt động kinh tế nào hoặc những dạng nghề nghiệp nào nào sẽ áp dụng những quy định của Công ước này.
3. Phạm vi áp dụng Công ước này ít nhất phải bao gồm: các ngành công nghiệp khai khoáng và sản xuất vật liệu; công nghiệp chế tạo; công nghiệp xây dựng; công nghiệp điện, khí đốt và nước; các dịch vụ vệ sinh; dịch vụ vận tải; kho bãi; thông tin liên lạc; đồn điền và các cơ sở nông nghiệp khác mà sản phẩm chủ yếu nhằm mục đích thương mại; song loại trừ những cơ sở sản xuất nông nghiệp mang tính chất gia đình hoặc có quy mô nhỏ, sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ở địa phương và không thường xuyên thuê mướn lao động.
4. Bất kỳ Quốc gia thành viên nào đã giới hạn phạm vi áp dụng Công ước theo điều này đều phải;
a. Chỉ rõ trong các báo cáo về việc áp dụng Công ước nộp theo quy định tại Điều 22 Điều lệ của Tổ chức Lao động quốc tế tình hình chung ở nước mình liên quan đến thanh thiếu niên và trẻ em được tuyển dụng hoặc tham gia làm việc trong những ngành nghề được loại ra khỏi phạm vi áp dụng Công ước này, cũng như bất kỳ tiến trình đã được thực hiện nhằm mở rộng việc áp dụng những quy định của Công ước;
b. Bất kỳ lúc nào cũng có thể chính thức mở rộng phạm vi áp dụng Công ước bằng một bản tuyên bố gửi cho Tổng giám đốc Văn phòng Lao động quốc tế.
1. Một khóa giáo dục hoặc đào tạo nghề mà do một nhà trường hay một cơ sở đào tạo nghề chịu trách nhiệm chính;
2. Một chương trình đào tạo nghề mà toàn bộ hay một phần thuộc về một chương trình đã được các nhà chức trách có thẩm quyền chấp thuận;
3. Một chương trình hướng nghiệp được xây dựng nhằm tạo điều kiện dễ dàng cho việc lựa chọn hay đào tạo một nghề nghiệp nhất định.
a. không có khả năng gây tổn hại đến sức khỏe hoặc sự phát triển của các em;
b. không ảnh hưởng đến việc học tập, việc tham gia vào những chương trình hướng nghiệp hay đào tạo nghề đã được các nhà chức trách có thẩm quyền chấp thuận, hoặc những chương trình mà các em có khả năng tiếp thu.
2. Luật hoặc pháp quy quốc gia có thể cho phép tuyển dụng hoặc tham gia lao động của những người từ ít nhất từ 15 tuổi trở lên tuy chưa hoàn thành chương trình giáo dục bắt buộc, trong các công việc thỏa mãn các điều kiện đã nêu trong các điểm (a) và (b) khoản 1 điều này.
3. Các nhà chức trách có thẩm quyền phải xác định những hoạt động nào mà cho phép tuyển dụng hoặc lao động theo quy định ở các khoản 1 và 2 điều này, và phải quy định số giờ cũng như những điều kiện cho việc tuyển dụng hoặc lao động như vậy.
4. Mặc dầu có những quy định tại các khoản 1 và 2 điều này, Quốc gia thành viên nào đã áp dụng những quy định tại khoản 4 Điều 2 vẫn có thể, chừng nào còn áp dụng những quy định đó, thay thế các độ tuổi 12 và 14 cho các độ tuổi 13 và 15 đã nêu ở khoản 1 và thay thế độ tuổi 14 cho độ tuổi 15 nêu trong khoản 2 điều này.
2. Giấy phép cấp như vậy phải quy định giới hạn về thời gian và những điều kiện của việc tuyển dụng hoặc lao động.
2. Luật hoặc pháp quy quốc gia, hoặc nhà chức trách có thẩm quyền phải xác định những chủ thể nào có trách nhiệm tuân thủ những quy định của Công ước.
3. Luật hoặc pháp quy quốc gia, hoặc nhà chức trách có thẩm quyền phải quy định các sổ đăng ký hoặc các tài liệu khác mà người sử dụng lao động phải lập và xuất trình; những sổ đăng ký hoặc tài liệu đó phải ghi rõ tên, tuổi hoặc ngày sinh đã được chứng nhận, nếu có thể, của những người mà người sử dụng lao động đã tuyển dụng, những người đang làm việc cho họ, và những lao động dưới 18 tuổi.
2. Việc công ước này có hiệu lực sẽ không cản trở việc phê chuẩn Công ước về Tuổi tối thiểu (các công việc ngoài biển) (sửa đổi) năm 1936; Công ước về Tuổi tối thiểu (các công việc công nghiệp) (sửa đổi) năm 1937, Công ước về Tuổi tối thiểu (các công việc phi công nghiệp) (sửa đổi) năm 1937, Công ước về Tuổi tối thiểu (công việc đánh cá) năm 1959, và Công ước về Tuổi tối thiểu (các công việc dưới mặt đất) năm 1965.
3. Công ước về Tuổi tối thiểu (các công việc công nghiệp) năm 1919, Công ước về Tuổi tối thiểu (các công việc ngoài biển) năm 1920, Công ước về Tuổi tối thiểu (các công việc nông nghiệp) năm 1921, Công ước về Tuổi tối thiểu (các công việc dưới hầm tàu và đốt lò) năm 1921 sẽ đóng lại việc phê chuẩn khi tất cả các Quốc gia thành viên tham gia các công ước đó tán thành việc đóng lại như vậy bằng cách phê chuẩn công ước này, hoặc bằng một bản tuyên bố gửi cho Tổng giám đốc Văn phòng Lao động quốc tế.
4. Khi những nghĩa vụ theo Công ước này được chấp nhận:
a. bởi một Quốc gia thành viên đã tham gia Công ước về Tuổi tối thiểu (các công việc công nghiệp) (sửa đổi) năm 1937 và đã tuyên bố theo đúng quy định ở
b. bởi một Quốc gia thành viên đã tham gia Công ước về Tuổi tối thiểu (các công việc phi công nghiệp) năm 1932, thì Công ước trước sẽ đương nhiên không còn hiệu lực với Quốc gia thành viên này;
c. bởi một Quốc gia thành viên đã tham gia Công ước về tuổi tối thiểu (các công việc phi công nghiệp) (sửa đổi) năm 1937 và đã tuyên bố theo đúng quy định ở
d. bởi một Quốc gia thành viên đã tham gia Công ước về tuổi tối thiểu (các công việc ngoài biển) (sửa đổi) năm 1936 và đã tuyên bố theo đúng quy định ở
e. bởi một Quốc gia thành viên đã tham gia Công ước về Tuổi tối thiểu (các công việc đánh cá) năm 1959 và đã tuyên bố theo đúng quy định ở
f. bởi một Quốc gia thành viên đã tham gia Công ước về Tuổi tối thiểu (các công việc dưới mặt đất) năm 1965 và đã tuyên bố theo đúng quy định ở
5. Việc chấp nhận những nghĩa vụ của công ước này sẽ dẫn đến việc bãi ước các công ước sau, nếu và khi công ước này có hiệu lực:
a. Công ước về Tuổi tối thiểu (các công việc công nghiệp) năm 1919, theo như điều 12 của công ước này;
b. Công ước về Tuổi tối thiểu (các công việc nông nghiệp) năm 1921, theo như điều 9 của công ước này
c. Công ước về Tuổi tối thiểu (các công việc trên biển) năm 1920, theo điều 10 của công ước này, và Công ước về Tuổi tối thiểu (các công việc dưới hầm tàu và đốt lò) năm 1921, theo điều 12 công ước này.
2. Công ước này sẽ có hiệu lực sau 12 tháng kể từ ngày có hai Quốc gia thành viên đăng ký phê chuẩn.
3. Sau đó, đối với bất kỳ Quốc gia thành viên nào đăng ký phê chuẩn với Tổng Giám đốc Văn phòng Lao động quốc tế, Công ước sẽ có hiệu lực sau 12 tháng kể từ thời điểm Quốc gia thành viên đó đăng ký phê chuẩn.
2. Trong vòng một năm sau khi kết thúc thời hạn 10 năm nói trong khoản trên mà một Quốc gia thành viên đã phê chuẩn Công ước này không thực hiện quyền rút khỏi Công ước đã quy định tại điều này, thì sẽ bị ràng buộc trong thời hạn 10 năm tiếp theo rồi sau đó mới được rút khỏi Công ước mỗi khi kết thúc thời hạn 10 năm theo những quy định tại điều này.
2. Khi thông báo cho các Quốc gia thành viên Tổ chức Lao động quốc tế về việc đăng ký phê chuẩn của Quốc gia thành viên thứ hai, Tổng Giám đốc sẽ lưu ý các Quốc gia thành viên về thời điểm Công ước có hiệu lực.
a. Việc phê chuẩn của một Quốc gia thành viên với một Công ước mới sửa đổi Công ước này sẽ đương nhiên dẫn đến việc lập tức rút khỏi Công ước này mà không cần theo quy định tại Điều 13 trên đây, vào lúc Công ước sửa đổi bắt đầu có hiệu lực.
b. Kể từ ngày Công ước mới sửa đổi bắt đầu có hiệu lực, Công ước này sẽ không mở để các quốc gia phê chuẩn nữa.
2. Trong mọi trường hợp, Công ước này vẫn sẽ giữ nguyên hiệu lực về mặt hình thức và nội dung như hiện nay đối với những Quốc gia thành viên nào đã phê chuẩn Công ước này mà không phê chuẩn Công ước sửa đổi.
Cả hai bản tiếng Anh và tiếng Pháp của Công ước này đều có giá trị như nhau.
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.
- 1 Công ước 105 năm 1957 về xóa bỏ lao động cưỡng bức
- 2 Công ước 100 năm 1951 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ cho một công việc có giá trị ngang nhau
- 3 Tuyên bố về phát triển và tiến bộ xã hội, 1969
- 4 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13142-2:2020 (ISO 34101-2:2019) về Cacao được sản xuất bền vững và có thể truy xuất nguồn gốc - Phần 2: Yêu cầu đối với kết quả thực hiện (về các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường)