Giới thiệu về Công ước 105 năm 1957 về xóa bỏ lao động cưỡng bức
Công ước số 105 năm 1957 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) là một trong những văn kiện pháp lý quốc tế nền tảng nhằm bảo vệ quyền con người và quyền tự do lao động. Mục tiêu cốt lõi của Công ước là xóa bỏ triệt để mọi hình thức lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc trên phạm vi toàn cầu. Dưới đây là phần tóm tắt chi tiết và phân tích chuyên sâu các nội dung quy định của Công ước dựa trên nguồn dữ liệu được cung cấp.
1. Cam kết bãi bỏ và các trường hợp nghiêm cấm sử dụng lao động cưỡng bức (Điều 1)
Theo quy định tại Điều 1, tất cả các quốc gia thành viên của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) khi phê chuẩn Công ước này đều phải cam kết bãi bỏ hoàn toàn lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc, đồng thời cam kết không sử dụng bất kỳ hình thức nào của loại lao động này trong các trường hợp sau:
- Biện pháp cưỡng chế hoặc giáo dục chính trị: Nghiêm cấm sử dụng lao động cưỡng bức như một công cụ để trừng phạt, cưỡng chế hoặc giáo dục lại những cá nhân có chính kiến, hoặc có các ý kiến bày tỏ sự chống đối về mặt tư tưởng đối với trật tự chính trị, xã hội hoặc kinh tế hiện hành đã được thiết lập.
- Huy động và sử dụng nhân công phát triển kinh tế: Không được phép áp dụng lao động cưỡng bức như một phương thức để huy động và sử dụng lực lượng lao động phục vụ cho các mục tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế của quốc gia.
- Xử lý vi phạm kỷ luật lao động: Nghiêm cấm việc áp dụng lao động cưỡng bức như một hình thức chế tài, xử phạt đối với các hành vi vi phạm kỷ luật lao động của người lao động.
- Trừng phạt hành vi đình công: Tuyệt đối không được sử dụng lao động cưỡng bức như một biện pháp trừng phạt đối với những người lao động đã tham gia vào các cuộc đình công.
- Biện pháp phân biệt đối xử: Nghiêm cấm sử dụng lao động cưỡng bức như một công cụ phân biệt đối xử dựa trên các yếu tố về chủng tộc, địa vị xã hội, nguồn gốc dân tộc hoặc tôn giáo.
2. Nghĩa vụ thực thi các biện pháp xóa bỏ triệt để (Điều 2)
Điều 2 của Công ước quy định rõ nghĩa vụ hành động của các quốc gia thành viên sau khi phê chuẩn:
- Mọi nước thành viên cam kết phải áp dụng ngay lập tức các biện pháp có hiệu quả trên thực tế nhằm xóa bỏ hoàn toàn và ngay lập tức các hình thức lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc như đã được nêu chi tiết tại Điều 1.
- Quy định này đòi hỏi các quốc gia phải xây dựng hành lang pháp lý vững chắc, thực hiện các biện pháp giám sát và chế tài nghiêm khắc để đảm bảo không có bất kỳ hành vi lao động cưỡng bức nào tồn tại trên thực tế.
3. Các điều khoản cuối cùng (Từ Điều 3 đến Điều 10)
Các điều khoản từ Điều 3 đến Điều 10 của Công ước bao gồm các quy định cuối cùng theo mẫu chuẩn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Các nội dung này điều chỉnh các vấn đề mang tính thủ tục pháp lý quốc tế như: thủ tục phê chuẩn, hiệu lực thi hành, thủ tục bãi ước, thông báo và nghĩa vụ báo cáo định kỳ của các quốc gia thành viên về tình hình thực thi các cam kết trong Công ước.
CÔNG ƯỚC SỐ 105
CÔNG ƯỚC
VỀ XÓA BỎ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC, 1957
Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế,
Được Hội đồng quản trị của Văn phòng Lao động quốc tế triệu tập tại Giơ-ne-vơ ngày 5 tháng 6 năm 1957, trong kỳ họp thứ bốn mươi, và
Sau khi đã xem xét vấn đề lao động cưỡng bức là vấn đề thuộc điểm thứ tư trong chương trình nghị sự kỳ họp, và
Sau khi đã ghi nhận những quy định của Công ước về Lao động cưỡng bức, 1930, và
Sau khi đã ghi nhận rằng Công ước năm 1926 về chế độ nô lệ đã quy định phải có những biện pháp hữu ích để tránh cho lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc khỏi dẫn tới những điều kiện tương tự như chế độ nô lệ, và Công ước bổ sung năm 1956 về việc xóa bỏ chế độ nô lệ, xóa bỏ việc mua bán nô lệ, xóa bỏ các thể chế và cách điều hành giống như chế độ nô lệ, nhằm đạt tới xóa bỏ hoàn toàn chế độ nô dịch do nợ nần và chế độ nông nô, và
Sau khi đã ghi nhận rằng Công ước về Bảo vệ tiền lương 1949, đã quy định việc trả lương theo từng kỳ đều đặn, và đã cấm các cách trả lương và khiến cho người lao động thực tế không sao rời bỏ được công việc đang làm, và
Sau khi đã quyết định chấp thuận một số đề nghị về việc xóa bỏ một vài hình thức lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc đang là sự vi phạm đối với các quyền con người như đã được ghi trong Hiến chương Liên hợp quốc và nêu trong Tuyên ngôn chung về nhân quyền, và
Sau khi đã quyết định rằng những đề nghị đó sẽ mang hình thức một Công ước quốc tế,
Thông qua ngày 25 tháng 6 năm 1957, Công ước dưới đây, gọi là Công ước về Xóa bỏ lao động cưỡng bức, 1957.
Điều 1
Mọi Nước thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế phê chuẩn Công ước này cam kết bãi bỏ lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc, và cam kết không sử dụng bất kỳ hình thức nào của loại lao động đó.
a). Như là một biến pháp cưỡng chế hay giáo dục chính trị, hoặc như một sự trừng phạt đối với những ai đang có hoặc đang phát biểu chính kiến, hay ý kiến chống đối về tư tưởng đối với trật tự chính trị, xã hội, hoặc kinh tế đã được thiết lập;
b). Như là một biện pháp huy động và sử dụng nhân công vào mục đích phát triển kinh tế;
c). Như là một biện pháp về xử lý vi phạm kỷ luật lao động;
d). Như một sự trừng phạt đối với việc đã tham gia đình công;
e). Như một biện pháp phân biệt đối xử về chủng tộc, xã hội, dân tộc hoặc tôn giáo.
Điều 2
Mọi Nước thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế đã phê chuẩn Công ước này cam kết sử dụng các biện pháp có hiệu quả nhằm xóa bỏ ngay và toàn bộ lao động cưỡng bức bắt buộc, như đã quy định tại Điều 1, Công ước này.
Các Điều từ 3 đến 10
Những quy định cuối cùng mẫu.
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.
- 1 Công ước về tuổi lao động tối thiểu, 1973
- 2 Tuyên ngôn về bảo vệ tất cả mọi người khỏi sự cưỡng bức mất tích, 1982
- 3 Công ước về bảo vệ tất cả mọi người khỏi bị cưỡng bức mất tích, 2006
- 4 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13142-2:2020 (ISO 34101-2:2019) về Cacao được sản xuất bền vững và có thể truy xuất nguồn gốc - Phần 2: Yêu cầu đối với kết quả thực hiện (về các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường)