Giới thiệu về Công ước số 87 năm 1948 về Quyền tự do hiệp hội và về việc bảo vệ quyền được tổ chức
Công ước số 87 năm 1948 là một trong những công ước nền tảng và quan trọng nhất của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Văn bản này thiết lập các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế cốt lõi nhằm bảo đảm quyền tự do thành lập, gia nhập và hoạt động của các tổ chức đại diện cho người lao động và người sử dụng lao động mà không có sự can thiệp từ phía cơ quan công quyền. Dưới đây là phần tóm tắt chi tiết, chuyên sâu toàn bộ nội dung của Công ước.
Quyền tự do hiệp hội (Phần I - Từ Điều 1 đến Điều 10)
Phần này quy định các nguyên tắc cơ bản và mang tính pháp lý bắt buộc đối với các quốc gia thành viên trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền tự do hiệp hội:
- Cam kết thực hiện (Điều 1): Mọi quốc gia thành viên của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) khi phê chuẩn và có Công ước này hiệu lực tại nước mình đều có nghĩa vụ pháp lý bắt buộc phải thi hành đầy đủ các quy định của Công ước.
- Quyền tự do thành lập và gia nhập tổ chức (Điều 2): Người lao động và người sử dụng lao động, không phân biệt dưới bất kỳ hình thức nào (về giới tính, chủng tộc, nghề nghiệp, tôn giáo...), đều có quyền thành lập và gia nhập các tổ chức theo sự lựa chọn riêng của mình mà không cần phải xin phép trước. Điều kiện duy nhất được áp dụng là phải tuân thủ điều lệ của chính tổ chức đó.
- Quyền tự chủ hoạt động của tổ chức (Điều 3):
- Các tổ chức của người lao động và người sử dụng lao động có toàn quyền tự quyết trong việc: lập ra điều lệ và các quy tắc quản lý nội bộ; tự do bầu chọn các đại diện của mình; tự tổ chức bộ máy điều hành và soạn thảo chương trình hoạt động.
- Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tuyệt đối tránh mọi sự can thiệp mang tính chất hạn chế hoặc cản trở việc thực hiện hợp pháp các quyền tự chủ nêu trên.
- Bảo vệ trước các quyết định hành chính (Điều 4): Các tổ chức của người lao động và người sử dụng lao động được bảo vệ nghiêm ngặt trước pháp luật, không thể bị bất kỳ cơ quan hành chính nào ra quyết định buộc phải giải tán hoặc đình chỉ hoạt động.
- Quyền liên kết và gia nhập tổ chức quốc tế (Điều 5): Các tổ chức của người lao động và người sử dụng lao động có quyền tự do thành lập và gia nhập các liên đoàn, tổng liên đoàn. Đồng thời, các tổ chức, liên đoàn hoặc tổng liên đoàn này đều có quyền liên kết và gia nhập các tổ chức quốc tế của người lao động và người sử dụng lao động.
- Áp dụng quyền cho các liên đoàn (Điều 6): Các quy định bảo đảm quyền tự do tại Điều 2, Điều 3 và Điều 4 của Công ước cũng được áp dụng hoàn toàn đối với các liên đoàn và tổng liên đoàn của người lao động và người sử dụng lao động.
- Tư cách pháp nhân (Điều 7): Việc thừa nhận hoặc cấp tư cách pháp nhân cho các tổ chức, liên đoàn và tổng liên đoàn không được đi kèm với các điều kiện mang tính chất hạn chế hoặc cản trở việc áp dụng các quyền tự do cơ bản quy định tại các Điều 2, 3 và 4.
- Mối quan hệ với pháp luật quốc gia (Điều 8):
- Trong quá trình thực hiện các quyền được Công ước thừa nhận, người lao động, người sử dụng lao động và các tổ chức của họ phải tôn trọng hệ thống pháp luật của nước sở tại.
- Ngược lại, hệ thống pháp luật quốc gia không được phép chứa đựng các quy định mang tính chất xâm hại, cũng như không được áp dụng nhằm mục đích làm suy giảm các bảo đảm quyền tự do đã được quy định trong Công ước này.
- Áp dụng đối với lực lượng vũ trang và cảnh sát (Điều 9):
- Mức độ và phạm vi áp dụng các bảo đảm của Công ước đối với lực lượng vũ trang và cảnh sát sẽ do pháp luật hoặc quy định riêng của từng quốc gia tự xác định.
- Việc một quốc gia thành viên phê chuẩn Công ước này không được coi là làm ảnh hưởng đến các đạo luật, phán quyết, tập quán hoặc thỏa thuận sẵn có nhằm dành cho các thành viên lực lượng vũ trang và cảnh sát những bảo đảm tốt hơn.
- Định nghĩa về "Tổ chức" (Điều 10): Trong khuôn khổ Công ước này, thuật ngữ "tổ chức" được định nghĩa là mọi tổ chức của người lao động hoặc của người sử dụng lao động được thành lập với mục đích thúc đẩy, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động hoặc của người sử dụng lao động.
Bảo vệ quyền được tổ chức (Phần II - Điều 11)
Phần này quy định về nghĩa vụ hành động tích cực của các quốc gia thành viên nhằm hiện thực hóa quyền tự do hiệp hội trên thực tế:
- Nghĩa vụ của quốc gia thành viên (Điều 11): Mỗi nước thành viên của ILO khi Công ước này có hiệu lực cam kết phải áp dụng tất cả các biện pháp cần thiết, thích hợp và hiệu quả để bảo đảm cho người lao động và người sử dụng lao động được tự do thực hiện quyền tổ chức của mình mà không bị cản trở.
Các quy định khác và quy định cuối cùng (Phần III & Phần IV - Từ Điều 12 đến Điều 21)
Các phần cuối của Công ước tập trung vào các thủ tục hành chính, phạm vi áp dụng lãnh thổ và các điều khoản thi hành:
- Áp dụng cho các lãnh thổ phi chính quốc (Điều 12 và Điều 13): Quy định về việc tuyên bố áp dụng các tiêu chuẩn của Công ước đối với các vùng lãnh thổ phi chính quốc thuộc quyền quản lý hoặc ủy trị của nước thành viên.
- Các quy định cuối cùng mẫu (Từ Điều 14 đến Điều 21): Bao gồm các điều khoản kỹ thuật tiêu chuẩn của ILO liên quan đến thủ tục phê chuẩn, thời điểm có hiệu lực của Công ước, thủ tục bãi bỏ (tuyên bố hủy bỏ hiệu lực), nghĩa vụ báo cáo định kỳ của các quốc gia thành viên và vai trò giám sát của Tổng giám đốc Văn phòng Lao động Quốc tế.
CÔNG ƯỚC SỐ 87
CÔNG ƯỚC
VỀ QUYỀN TỰ DO HIỆP HỘI VÀ VỀ VIỆC BẢO VỆ QUYỀN ĐƯỢC TỔ CHỨC, 1948
Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế,
Được Hội đồng quản trị của Văn phòng lao động quốc tế triệu tập tại Xan-Franxiscô ngày 17 tháng 6 năm 1948, trong kỳ họp thứ ba mươi mốt, và,
Sau khi đã quyết định chấp thuận dưới hình thức một Công ước, một số đề nghị về quyền tự do hiệp hội và về việc bảo vệ quyền được tổ chức, là vấn đề thuộc điểm thứ bảy trong chương trình nghị sự kỳ họp, và
Xét lời nói đầu của Điều lệ Tổ chức Lao động quốc tế tuyên bố “thừa nhận nguyên tắc tự do hiệp hội” là một phương tiện cải thiện điều kiện lao động và thiết lập hoà bình, và
Xét tuyên ngôn Phi-la-đen-phi-a khẳng định lại rằng “tự do phát biểu là và hiệp hội là điều thiết yếu để duy trì sự tiến bộ”, và
Xét rằng Hội nghị Tổ chức lao động quốc tế trong kỳ họp thứ ba mươi, đã nhất trí thông qua những nguyên tắc để làm cơ sở cho việc lập quy phạm quốc tế, và
Xét rằng Đại hội đồng Liên Hợp quốc trong kỳ họp thứ ba mươi, đã thừa nhận những nguyên tắc này và yêu cầu Tổ chức Lao động quốc tế tiếp tục mọi cố gắng để có thể thông qua một hay nhiều Công ước quốc tế,
Thông qua, ngày 09 tháng 7 năm 1948, Công ước dưới đây, gọi là Công ước về Quyền tự do hiệp hội và về việc bảo vệ quyền được tổ chức, 1948.
Phần I.
QUYỀN TỰ DO HIỆP HỘI
Điều 1
Mọi Nước thành viên của Tổ chức Lao động quốc tế mà tại đó Công ước này có hiệu lực, cam kết thi hành những quy định dưới đây.
Điều 2
Người lao động và người sử dụng lao động, không phân biệt dưới bất kỳ hình thức nào, đều không phải xin phép trước mà vẫn có quyền được tổ chức và gia nhập các tổ chức theo sự lựa chọn của mình, với một điều kiện duy nhất là phải tuân theo điều lệ của chính tổ chức đó.
Điều 3
1. Các tổ chức của người lao động và của người sử dụng lao động có quyền lập ra điều lệ, những quy tắc quản lý, tự do bầu các đại diện, tổ chức việc điều hành hoạt động và soạn thảo chương trình hoạt động của mình.
2. Các cơ quan có thẩm quyền phải tránh mọi sự can thiệp có tính chất hạn chế quyền đó, hoặc cản trở việc thi hành hợp pháp quyền đó.
Điều 4
Các tổ chức của người lao động và của người sử dụng lao động không thể bị bất cứ một cơ quan hành chính nào buộc phải giải tán hoặc đình chỉ.
Điều 5
Các tổ chức của người lao động và của người sử dụng lao động có quyền hợp thành các liên đoàn, tổng liên đoàn, và mọi tổ chức, liên đoàn hoặc tổng liên đoàn đó đều có quyền gia nhập đều có quyền liên kết với các tổ chức quốc tế của người lao động và người sử dụng lao động.
Điều 6
Những quy định trong Điều 2, 3 và 4 trên đây được áp dụng cho cả các liên đoàn, các tổng liên đoàn của các tổ chức của người lao động và người sử dụng lao động.
Điều 7
Việc có tư cách pháp nhân của các tổ chức của người lao động và của người sử dụng lao động, của các liên đoàn và tổng liên đoàn của các tổ chức đó, không thể phụ thuộc những điều kiện có tính chất hạn chế việc áp dụng những quy định của các Điều 2, 3 và 4 trên đây.
Điều 8
1.Trong khi thi hành những quyền mà Công ước này đã thừa nhận cho mình, người lao động, người sử dụng lao động và các tổ chức tương ứng của họ, cũng như mọi người và mọi tập thể có tổ chức khác, đều phải tôn trọng pháp luật trong nước
2. Pháp luật quôc gia không được có những quy định mang tính chất xâm hại, cũng như không được áp dụng với mục đích xâm hại tới những đảm bảo đã được quy định trong Công ước này.
Điều 9
1. Mức độ áp dụng những bảo đảm quy định trong Công ước này cho các lực lượng vũ trang và cảnh sát sẽ do pháp luật hoặc quy định quốc gia xác định.
2. Theo đúng những nguyên tắc được xác lập trong Đoạn 8, Điều 19 của Điều lệ Tổ chức Lao động quốc tế , việc một Nước thành viên phê chuẩn Công ước này sẽ không được coi là làm ảnh hưởng tới mọi đạo luật, mọi phán quyết, mọi tập quán hoặc mọi thoả thuận đã có và đã dành cho các thành viên của các lực lượng vũ trang, cảnh sát, những bảo đảm quy định trong Công ước này.
Điều 10
Trong Công ước này, thuật ngữ “tổ chức” nghĩa là mọi tổ chức nào của người lao động hoặc của người sử dụng lao động có mục đích xúc tiến và bảo vệ những lợi ích của người lao động hoặc của người sử dụng lao động.
Phần II.
VIỆC BẢO VỆ QUYỀN ĐƯỢC TỔ CHỨC
Điều 11
Mọi Nước thành viên nào của Tổ chức Lao động quốc tế mà tại đó Công ước này có hiệu lực, cam kết áp dụng mọi biện pháp cần thiết và thích hợp để bảo đảm cho người lao động và người sử dụng lao động được tự do thi hành quyền tổ chức.
Phần III.
NHỮNG QUY ĐỊNH KHÁC
Các Điều 12 và 13
Tuyên bố áp dụng cho các lãnh thổ phi chính quốc.
Phần IV.
NHỮNG QUY ĐỊNH CUỐI CÙNG
Các Điều từ 14 đến 21
Những quy định cuối cùng mẫu.
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.
- 1 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em
- 2 Công ước về vị thế của người không quốc tịch, 1954
- 3 Công ước về kết hôn tự nguyện, tuổi kết hôn tối thiểu và việc đăng ký kết hôn, 1962
- 4 Tuyên bố về xóa bỏ bạo lực với phụ nữ 1993
- 5 Tuyên bố về quyền của những người không phải là công dân nước mà họ đang sinh sống, 1985
- 1 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em
- 2 Công ước về vị thế của người không quốc tịch, 1954
- 3 Công ước về kết hôn tự nguyện, tuổi kết hôn tối thiểu và việc đăng ký kết hôn, 1962
- 4 Tuyên bố về xóa bỏ bạo lực với phụ nữ 1993
- 5 Tuyên bố về quyền của những người không phải là công dân nước mà họ đang sinh sống, 1985
- 6 Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 13142-2:2020 (ISO 34101-2:2019) về Cacao được sản xuất bền vững và có thể truy xuất nguồn gốc - Phần 2: Yêu cầu đối với kết quả thực hiện (về các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường)