Công văn 04/2004/KHXX được Tòa án nhân dân tối cao ban hành nhằm hướng dẫn thi hành Mục 4 Nghị quyết số 24/2003/QH11 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự. Văn bản tập trung giải quyết các vướng mắc phát sinh trong giai đoạn chuyển tiếp giữa Bộ luật Tố tụng hình sự cũ và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, đặc biệt là việc chuyển giao thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với Tòa án nhân dân các cấp, Tòa án quân sự các cấp, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các cá nhân, tổ chức có liên quan trong việc thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự trong giai đoạn chuyển tiếp pháp luật.
- Hướng dẫn về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực
- Đối với các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, nếu Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu đã thụ lý trước ngày 01/07/2004 nhưng chưa đưa ra xét xử sơ thẩm, thì phải chuyển giao vụ án cho Tòa án nhân dân cấp huyện hoặc Tòa án quân sự khu vực có thẩm quyền để giải quyết theo thủ tục chung.
- Trường hợp vụ án đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử trước ngày 01/07/2004 thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu tiếp tục tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án đó mà không thực hiện chuyển giao.
- Giải quyết thẩm quyền đối với vụ án có nhiều tội danh hoặc nhiều bị cáo
- Trong trường hợp vụ án có nhiều bị cáo hoặc một bị cáo phạm nhiều tội, nếu có tội phạm hoặc bị cáo thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu, thì toàn bộ vụ án vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu.
- Việc phân định thẩm quyền phải bảo đảm tính toàn diện, khách quan và không làm chia cắt vụ án một cách cơ học gây ảnh hưởng đến quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án.
- Áp dụng các quy định tố tụng trong giai đoạn chuyển tiếp
- Các hoạt động tố tụng đã được thực hiện trước ngày 01/07/2004 theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự cũ thì vẫn có giá trị pháp lý và không phải tiến hành lại từ đầu.
- Kể từ ngày 01/07/2004, mọi hoạt động tố tụng hình sự bao gồm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
Hiệu lực thi hành
Công văn 04/2004/KHXX có hiệu lực hướng dẫn áp dụng thống nhất kể từ ngày ban hành, phục vụ trực tiếp cho việc triển khai thi hành đồng bộ với Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 kể từ ngày 01/07/2004.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 04/2004/KHXX | Hà Nội, ngày 15 tháng 1 năm 2004 |
| Kính gửi: | - Tòa án quân sự Trung ương |
Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ tư đã thông qua Bộ luật Tố tụng hình sự mới và Nghị quyết số 24/2003/QH11 "Về việc thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự". Mục 4 của Nghị quyết quy định:
"Kể từ ngày Bộ luật Tố tụng hình sự được công bố cho đến ngày Bộ luật này có hiệu lực:
a. Đối với bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm trước ngày Bộ luật Tố tụng hình sự được công bố nhưng chưa xét xử thì Hội đồng giám đốc thẩm có quyền quyết định theo quy định tại Điều 254 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988.
b. Đối với bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm sau ngày Bộ luật Tố tụng hình sự được công bố thì Hội đồng giám đốc thẩm có quyền quyết định theo quy định tại các Điểm 1, 2 và 3 Điều 254 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988".
Ngày 10/12/2003 Chủ tịch nước đã ký Lệnh số 29/2003/L-CTN về việc công bố Bộ luật Tố tụng hình sự và Lệnh số 30/2003/L-CTN về việc công bố Nghị quyết số 24/2003/QH11 của Quốc hội. Như vậy để thi hành đúng quy định tại Mục 4 trên đây, Tòa án nhân dân tối cao lưu ý một số điểm sau:
1. Đối với những bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm trước 0 giờ 00 ngày 10/12/2003 nhưng chưa xét xử thì Hội đồng giám đốc thẩm có quyền quyết định theo quy định tại Điều 254 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988; cụ thể là:
"1. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật;
2. Hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án;
3. Hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại;
4. Sửa bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật".
2. Đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm sau 0 giờ 00 ngày 10/12/2003 đến trước ngày Bộ luật Tố tụng hình sự mới có hiệu lực (0 giờ 00 ngày 1/7/2004), thì Hội đồng giám đốc thẩm chỉ có quyền quyết định theo quy định tại các Điểm 1, 2 và 3 Điều 254 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988.
Nhận được Công văn này đề nghị đồng chí Chánh án Tòa án quân sự Trung ương, các đồng chí Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các đồng chí Chánh án quân sự quân khu và tương đương, đồng chí Chánh tòa Tòa hình sự Tòa án nhân dân tối cao cần phổ biến và quán triệt cho cán bộ, công chức trong cơ quan, đơn vị mình biết để bảo đảm việc thực hiện đúng quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 24/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc hội.
|
| Đặng Quang Phương (Đã Ký) |
- 1 Thông tư liên tịch 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA về thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự do Tòa án nhân dân tối cao - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Quốc phòng - Bộ Công an cùng ban hành
- 2 Bộ luật tố tụng hình sự 1988
- 3 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003
- 4 Nghị quyết số 24/2003/QH11 về việc thi hành Bộ luật Tố tụng Hình sự do Quốc Hội ban hành