Ngày 26 tháng 11 năm 2003, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 24/2003/QH11 về việc thi hành Bộ luật Tố tụng Hình sự. Nghị quyết này được ban hành nhằm bảo đảm việc triển khai, thi hành thống nhất và hiệu quả các quy định mới của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 trên phạm vi toàn quốc kể từ thời điểm có hiệu lực pháp luật.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của Nghị quyết
Nghị quyết quy định chi tiết về lộ trình hiệu lực, các biện pháp chuyển tiếp và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc thi hành Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003. Đối tượng áp dụng bao gồm các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án), người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng cùng các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trong hoạt động tố tụng hình sự.
1. Quy định về hiệu lực thi hành và bãi bỏ văn bản cũ
- Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2004.
- Kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1990, năm 1992 và năm 2000 hết hiệu lực thi hành.
2. Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong giai đoạn chuyển tiếp
- Đối với các vụ án hình sự đã được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm trước ngày 01 tháng 07 năm 2004 thì các giai đoạn tố tụng tiếp theo (như xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm hoặc thi hành án) phải được thực hiện theo các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003.
- Các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng đã được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 trước ngày 01 tháng 07 năm 2004 thì vẫn có giá trị pháp lý, không phải tiến hành lại theo quy định của Bộ luật mới.
- Đối với những vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử mà hành vi phạm tội xảy ra trước ngày 01 tháng 07 năm 2004, các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng các quy định có lợi cho người bị buộc tội (bị can, bị cáo) theo tinh thần của Bộ luật mới.
3. Bảo đảm quyền bào chữa và áp dụng các biện pháp ngăn chặn
- Nghị quyết nhấn mạnh việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo đúng các quy định mới. Người bào chữa được tạo điều kiện thuận lợi để tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ hoặc khởi tố bị can nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội.
- Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, đặc biệt là tạm giữ, tạm giam, phải tuân thủ nghiêm ngặt về thẩm quyền, căn cứ và thời hạn quy định tại Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003. Nghiêm cấm việc lạm dụng biện pháp tạm giam hoặc kéo dài thời hạn tạm giam trái quy định pháp luật.
4. Trách nhiệm tổ chức thực hiện và ban hành văn bản hướng dẫn
- Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm khẩn trương rà soát các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về tố tụng hình sự để tự mình hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ cho phù hợp với Bộ luật mới.
- Các cơ quan trung ương phối hợp ban hành các văn bản liên tịch hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, đặc biệt là các nội dung liên quan đến thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện, việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên.
- Tổ chức quán triệt, tập huấn sâu rộng về nội dung của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 cho cán bộ thuộc các cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án, cơ quan thi hành án và đội ngũ luật sư nhằm bảo đảm nhận thức thống nhất và áp dụng chính xác trong thực tiễn.
Nghị quyết số 24/2003/QH11 có hiệu lực thi hành cùng thời điểm với Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, đóng vai trò là văn bản định hướng quan trọng, bảo đảm sự chuyển tiếp thông suốt giữa hai thời kỳ pháp luật tố tụng hình sự và nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp tại Việt Nam.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 24/2003/QH11 | Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 2003 |
NGHỊ QUYẾT
VỀ VIỆC THI HÀNH BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
QUỐC HỘI
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;
QUYẾT NGHỊ
1. Bộ luật Tố tụng hình sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2004.
Bộ luật Tố tụng hình sự này thay thế Bộ luật Tố tụng hình sự được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 6 năm 1988 và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự được Quốc hội thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1990, ngày 22 tháng 12 năm 1992 và ngày 9 tháng 6 năm 2000.
2. Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, tự mình hoặc phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức việc rà soát những văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành để hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới; đề nghị Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội hủy bỏ, bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành văn bản mới cho phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bảo đảm hiệu lực của Bộ luật này từ ngày 01 tháng 7 năm 2004.
3. Kể từ ngày Bộ luật Tố tụng hình sự có hiệu lực, những Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu vực có đủ điều kiện thực hiện thì được giao thẩm quyền xét xử mới quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật này. Những Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu vực chưa đủ điều kiện thì thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về những tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, trừ những tội phạm quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 170 của Bộ luật này, nhưng chậm nhất đến ngày 01 tháng 7 năm 2009, tất cả Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu vực thực hiện thống nhất thẩm quyền xét xử mới quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chính phủ đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định những Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu vực được thực hiện thẩm quyền xét xử mới quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình khẩn trương củng cố cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Cơ quan điều tra quân sự dưới cấp quân khu, Viện kiểm sát quan sự khu vực, Tòa án quân sự khu vực chưa đủ điều kiện thực hiện để bảo đảm cho Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Tòa án quân sự khu vực thực hiện thống nhất thẩm quyền xét xử mới quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
4. Kể từ ngày Bộ luật Tố tụng hình sự được công bố cho đến ngày Bộ luật này có hiệu lực:
a. Đối với bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm trước ngày Bộ luật Tố tụng hình sự được công bố nhưng chưa xét xử thì Hội đồng giám đốc thẩm có quyền quyết định theo quy định tại Điều 254 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988.
b. Đối với bản án, quyết định hình sự đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm sau ngày Bộ luật Tố tụng hình sự được công bố thì Hội đồng giám đốc thẩm có quyền quyết định theo quy định tại các điểm 1, 2 và 3 Điều 254 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988.
5. Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Bộ luật Tố tụng hình sự này trong cán bộ và nhân dân phát huy tác dụng của Bộ luật Tố tụng hình sự trong đấu tranh phòng, chống tội phạm trên mọi lĩnh vực quản lý nhà nước và trong đời sống xã hội.
6. Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm thực hiện và hướng dẫn thi hành Nghị quyết này
Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003
| Nguyễn Văn An (Đã ký) |
- 1 Thông tư 01/2006/TT-BCA(C11) thực hiện Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành
- 2 Bộ luật tố tụng hình sự 1988
- 3 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1990
- 4 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 1992
- 5 Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật tố tụng hình sự do Quốc hội ban hành
- 6 Luật Tố tụng hình sự sửa đổi 2000
- 7 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003
- 8 Lệnh công bố Nghị quyết về thi hành Bộ luật tố tụng hình sự 2003
- 1 Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 2 Thông tư 01/2006/TT-BCA(C11) thực hiện Điều 35 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 do Bộ trưởng Bộ Công an ban hành
- 3 Nghị quyết số 509/2004/NQ-UBTVQH11 về việc hướng dẫn thực hiện nghị quyết của quốc hội về việc thi hành bộ luật tố tụng hình sự do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành
- 4 Hiến pháp năm 1992
- 5 Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật tố tụng hình sự do Quốc hội ban hành
- 6 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003
- 7 Công văn 04/2004/KHXX của Toà án nhân dân tối cao về việc thi hành mục 4 Nghị Quyết số 24/2003/QH11 của Quốc hội
- 8 Lệnh công bố Nghị quyết về thi hành Bộ luật tố tụng hình sự 2003