Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Tổng quan về Công văn 1115/TCT-CS năm 2017

Công văn 1115/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành năm 2017 là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ thuế quan trọng, giải đáp các vướng mắc liên quan đến điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào. Văn bản này tập trung làm rõ các quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, đặc biệt là trong các trường hợp giao dịch phức tạp như thanh toán qua bên thứ ba hoặc thực hiện bù trừ công nợ giữa các bên.

Điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo quy định hiện hành

Để doanh nghiệp được áp dụng cơ chế khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, Tổng cục Thuế nhấn mạnh việc tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện cốt lõi sau:

  • Có hóa đơn giá trị gia tăng hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu, chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài.
  • Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ hai mươi triệu đồng trở lên, trừ các trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng đã có thuế GTGT và các trường hợp khác theo quy định pháp luật.
  • Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt gồm chứng từ thanh toán qua ngân hàng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác như bù trừ công nợ, thanh toán ủy quyền.

Hướng dẫn chi tiết về chứng từ thanh toán qua ngân hàng và bù trừ công nợ

Công văn 1115/TCT-CS đưa ra các hướng dẫn cụ thể nhằm tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp khi thực hiện các phương thức thanh toán đặc thù:

  • Phương thức bù trừ công nợ: Việc bù trừ công nợ giữa hàng hóa, dịch vụ mua vào với hàng hóa, dịch vụ bán ra, hoặc bù trừ công nợ giữa các bên giao dịch chỉ được thừa nhận là thanh toán không dùng tiền mặt khi có văn bản thỏa thuận cụ thể. Doanh nghiệp phải quy định rõ phương thức này trong hợp đồng mua bán hoặc có biên bản đối chiếu, thỏa thuận bù trừ công nợ hợp pháp giữa các bên.
  • Thanh toán ủy quyền qua bên thứ ba: Trường hợp doanh nghiệp mua hàng hóa, dịch vụ nhưng thanh toán cho một bên thứ ba theo chỉ định của bên bán, giao dịch này chỉ được chấp nhận khấu trừ thuế khi có văn bản chỉ định thanh toán rõ ràng. Văn bản này có thể là điều khoản quy định trong hợp đồng chính thức, phụ lục hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận ba bên trước khi thực hiện thanh toán.
  • Yêu cầu đối với tài khoản ngân hàng: Tài khoản của bên mua và bên bán (hoặc bên thứ ba được chỉ định) dùng để giao dịch phải là tài khoản đã được đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế theo đúng quy định pháp luật về quản lý thuế.

Hệ quả pháp lý và lưu ý đối với doanh nghiệp

Việc không tuân thủ các hướng dẫn về chứng từ thanh toán sẽ dẫn đến những rủi ro pháp lý và tài chính đáng kể cho doanh nghiệp:

  • Các hóa đơn có giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng hợp lệ hoặc không có văn bản thỏa thuận bù trừ, chỉ định thanh toán hợp pháp sẽ bị loại bỏ quyền khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
  • Phần thuế GTGT không được khấu trừ do vi phạm nguyên tắc thanh toán cũng sẽ không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN).
  • Doanh nghiệp cần chủ động rà soát hệ thống hợp đồng, phụ lục hợp đồng và chứng từ chuyển tiền để đảm bảo tính đồng nhất, rõ ràng về mặt chủ thể thụ hưởng dòng tiền nhằm tránh bị cơ quan thuế truy thu và xử phạt khi thanh tra, kiểm tra.

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 1115/TCT-CS
V/v thuế GTGT.

Hà Nội, ngày 27 tháng 3 năm 2017

 

Kính gửi:

- Cục Thuế tỉnh An Giang;
- Công ty TNHH Bình Long.
(Đ/c: Lô E, KCN Bình Long, H. Châu Phú, T.An Giang)

 

Tổng cục Thuế nhận được công văn số 01/2017/CV.BL ngày 03/01/2017 của Công ty TNHH Bình Long về việc khấu trừ thuế GTGT đầu vào. Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Tại khoản 5 Điều 3 Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn: “Điều 3. Sửa đổi, bổ sung Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật Thuế giá trị gia tăng như sau:

…

5. Bổ sung ví dụ số 58a tại khoản 4 Điều 14 Thông tư số 219/2013/TT-BTC như sau:

“Ví dụ số 58a: Doanh nghiệp A đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu và nhà máy để sản xuất khép kín từ khâu nuôi trồng (bao gồm cả thuê gia công nuôi trồng mà doanh nghiệp A đầu tư toàn bộ giống, ao, hồ, hàng rào, hệ thống tưới tiêu, tàu thuyền và nguyên, vật liệu đầu vào khác như thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, dịch vụ thú y...), đến khâu chế biến phi-lê cá tra đông lạnh để xuất khẩu và bán trong nước. Trong quá trình sản xuất doanh nghiệp A đã mua thêm cá tra của các doanh nghiệp khác hoặc của các hộ nông dân. Cá tra mua ngoài trước khi đưa vào nhà máy đều được tập trung nuôi tại ao hồ của doanh nghiệp A cùng cá tra do doanh nghiệp A tự nuôi. Cá tra do doanh nghiệp tự nuôi và cá tra mua ngoài được đưa vào nhà máy chế biến thành sản phẩm cá tra phi-lê (cá fillet) qua công đoạn và theo quy trình: Cá nguyên liệu - làm sạch - cắt đầu, lột da - bỏ nội tạng - cắt phi-lê - ướp muối - đông lạnh - xuất bán. Doanh nghiệp A được thực hiện kê khai khấu trừ thuế GTGT như sau:

- Doanh nghiệp A được khấu trừ toàn bộ thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định và của hàng hóa, dịch vụ mua vào không hình thành tài sản cố định tại nhà máy phục vụ khâu sơ chế cá tra phi-lê theo quy trình nêu trên.

- Cá tra phi-lê có nguồn gốc do doanh nghiệp A tự nuôi để xuất khẩu được áp dụng thuế suất 0% và doanh nghiệp được khấu trừ toàn bộ thuế GTGT đầu vào có liên quan đến hoạt động xuất khẩu cá tra phi-lê. Trường hợp doanh nghiệp nuôi cá tra sau đó chế biến thành cá tra phi-lê vừa để xuất khẩu vừa để bán trong nước thì thuế GTGT đầu vào được phân bổ theo tỷ lệ % doanh thu xuất khẩu/Tổng Doanh thu (doanh thu xuất khẩu và doanh thu bán trong nước).””

Căn cứ hướng dẫn nêu trên, đề nghị Cục Thuế tỉnh An Giang rà soát cụ thể, trường hợp nếu doanh nghiệp đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu nuôi cá tra và nhà máy sản xuất, chế biến khép kín, sản phẩm đầu ra là cá tra phi - lê, sản phẩm này vừa xuất khẩu và bán trong nước; trong quá trình kinh doanh doanh nghiệp có mua cá tra nguyên liệu của tổ chức, cá nhân (từ người nông dân và doanh nghiệp khác trực tiếp nuôi trồng) để chế biến thành sản phẩm cá tra phi - lê vừa để xuất khẩu và bán trong nước thì đối chiếu với hướng dẫn tại ví dụ 58a được bổ sung vào khoản 4 Điều 14 Thông tư số 219/2013/TT-BTC nêu trên để hướng dẫn đơn vị thực hiện.

Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế tỉnh An Giang và Công ty TNHH Bình Long được biết./.

 

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- PTCT Cao Anh Tuấn (để b/c);
- Vụ PC (BTC);
- Vụ PC, KK&KTT (TCT);
- Lưu: VT, CS(3).

KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
VỤ TRƯỞNG VỤ CHÍNH SÁCH




Lưu Đức Huy

 

Văn bản liên quan nội dung
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Công văn 1115/TCT-CS năm 2017 về khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào do Tổng cục Thuế ban hành

Số hiệu: 1115/TCT-CS
Loại văn bản: Công văn
Ngày ban hành: 27/03/2017
Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
Người ký: Lưu Đức Huy
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 27/03/2017
Tình trạng: ● Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Thuế - Phí - Lệ Phí
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Công văn 1115/TCT-CS năm 2017 về khấu trừ thu...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký