Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Giới thiệu về Công văn 1366/TCT-KK năm 2020

Công văn 1366/TCT-KK do Tổng cục Thuế ban hành năm 2020 là văn bản hướng dẫn quan trọng về điều kiện thanh toán qua ngân hàng (thanh toán không dùng tiền mặt). Văn bản này giải quyết các vướng mắc thực tế của doanh nghiệp trong việc xác định tính hợp lệ của chứng từ thanh toán, làm cơ sở để khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào và tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN).

Điều kiện ghi nhận chứng từ thanh toán qua ngân hàng

Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, để các khoản thanh toán được coi là hợp lệ qua ngân hàng phục vụ cho mục đích kê khai và quyết toán thuế, doanh nghiệp cần đáp ứng các tiêu chuẩn sau:

  • Chứng từ chuyển tiền rõ ràng: Phải có chứng từ chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo đúng quy định pháp luật.
  • Đăng ký tài khoản ngân hàng: Tài khoản giao dịch của cả bên mua và bên bán phải là tài khoản đã được đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp (đối với các trường hợp pháp luật có quy định bắt buộc).
  • Tính đồng nhất của thông tin: Thông tin trên chứng từ chuyển tiền (tên chủ tài khoản, số tài khoản) phải trùng khớp với thông tin của các bên tham gia giao dịch trên hợp đồng mua bán và hóa đơn.

Quy định đối với trường hợp thanh toán qua bên thứ ba

Công văn 1366/TCT-KK làm rõ phương thức xử lý đối với các giao dịch thanh toán có sự tham gia của bên thứ ba được ủy quyền:

  • Yêu cầu về hợp đồng: Việc thanh toán cho bên thứ ba hoặc thanh toán theo chỉ định của bên bán phải được quy định cụ thể bằng văn bản trong hợp đồng mua bán chính thức hoặc phụ lục hợp đồng đính kèm.
  • Hợp pháp hóa chứng từ: Chứng từ chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên thứ ba được ủy quyền vẫn được chấp nhận là chứng từ thanh toán qua ngân hàng hợp lệ, nếu các thủ tục ủy quyền được thực hiện đúng quy định pháp luật dân sự.
  • Trách nhiệm của doanh nghiệp: Doanh nghiệp phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chân thật, chính xác của các thỏa thuận, văn bản ủy quyền và các chứng từ giao dịch liên quan.

Lưu ý quan trọng cho doanh nghiệp khi thực hiện

Để đảm bảo quyền lợi tối đa và tránh rủi ro bị truy thu thuế, doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý các điểm sau:

  • Ngưỡng thanh toán bắt buộc: Đối với các hóa đơn mua vào có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (đã bao gồm thuế GTGT), bắt buộc phải thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt để được khấu trừ thuế GTGT và tính chi phí hợp lý.
  • Kiểm soát rủi ro chứng từ: Doanh nghiệp cần chủ động rà soát, đối chiếu kỹ lưỡng chứng từ ngân hàng với hóa đơn thương mại trước khi thực hiện kê khai thuế.
  • Lưu trữ hồ sơ: Các văn bản thỏa thuận bù trừ công nợ, chỉ định thanh toán hoặc ủy quyền thanh toán qua bên thứ ba phải được lưu trữ cẩn thận cùng với hồ sơ khai thuế để xuất trình khi cơ quan thuế thực hiện thanh tra, kiểm tra.

BỘ TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC THUẾ
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 1366/TCT-KK
V/v thanh toán qua ngân hàng

Hà Nội, ngày 31 tháng 3 năm 2020

 

Kính gửi: Cục Thuế thành phố Hà Nội

Trả lời công văn số 996/CT-TTHT ngày 09/01/2020 của Cục Thuế thành phố Hà Nội về việc kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) liên quan đến Công ty TNHH thương mại và xuất nhập khẩu Phương Lan (mã số thuế 0106872593), Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

Căn cứ hướng dẫn tại Khoản 8 Điều 14 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật thuế GTGT và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật thuế GTGT;

Căn cứ hướng dẫn tại Khoản 2 Điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC (nêu trên) đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 10 Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT và quản lý thuế tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ;

Căn cứ hướng dẫn tại Điểm c Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành Luật thuế TNDN đã được sửa đổi, bổ sung tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế TNDN tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014, Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014, Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính;

Căn cứ hướng dẫn tại Điểm a Khoản 5 Điều 10 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật quản lý thuế; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 của Chính phủ;

Theo báo cáo của Cục Thuế thành phố Hà Nội: Năm 2017, năm 2018, Công ty đã thanh toán cho bên bán bằng tiền mặt đối với hàng hóa mua vào thuộc diện phải thanh toán qua ngân hàng, đã tổng hợp khai thuế GTGT, thuế TNDN. Ngày 06/6/2019, trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra thuế tại trụ sở Công ty, Công ty đã thực hiện thanh toán lại cho bên bán bằng hình thức thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa đã mua vào năm 2017, năm 2018 nêu trên và cũng được bên bán chuyển trả lại số tiền này qua ngân hàng.

Căn cứ các hướng dẫn và thông tin nêu trên, trường hợp Công ty TNHH thương mại và xuất nhập khẩu Phương Lan chưa khai bổ sung hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế có liên quan thuộc các năm 2017 và 2018 cho cơ quan thuế trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra kỳ tính thuế có liên quan tại trụ sở Công ty thì:

- Giao dịch mua bán và thanh toán tiền đã hoàn thành tại thời điểm các năm 2017 và 2018. Hạch toán kế toán, đối chiếu công nợ các năm 2017 và 2018 của Công ty sẽ không còn khoản phải trả của giao dịch nêu trên.

- Năm 2019, Công ty chuyển khoản qua ngân hàng cho người bán và được người bán chuyển trả lại bằng số tiền đã chuyển khoản thì không được coi là thanh toán cho giao dịch mua bán của các năm 2017 và 2018 nêu trên.

Do vậy, Công ty không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào và không được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN đối với hàng hóa mua vào thuộc diện phải thanh toán qua ngân hàng nhưng thực tế thanh toán bằng tiền mặt.

Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế thành phố Hà Nội được biết./.

 


Nơi nhận:
- Như trên;
- Phó Tổng cục trưởng Phi Vân Tuấn (để báo cáo);
- Vụ Pháp chế (BTC);
- Các Vụ: PC, CS (TCT);
- Website TCT;
- Lưu: VT, KK.

TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG
KT. VỤ TRƯỞNG VỤ KÊ KHAI VÀ KẾ TOÁN THUẾ
PHÓ VỤ TRƯỞNG




Nguyễn Thị Thu Hà

 

Văn bản liên quan nội dung
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Công văn 1366/TCT-KK năm 2020 về thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành

Số hiệu: 1366/TCT-KK
Loại văn bản: Công văn
Ngày ban hành: 31/03/2020
Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
Người ký: Nguyễn Thị Thu Hà
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 31/03/2020
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Xuất nhập khẩu
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Công văn 1366/TCT-KK năm 2020 về thanh toán q...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký