Công văn 1447/GSQL-GQ2 năm 2019 do Cục Giám sát quản lý về hải quan ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng, giải quyết các vướng mắc liên quan đến thủ tục hải quan, công tác giám sát và chính sách thuế đối với việc xử lý phế liệu, phế thải của các doanh nghiệp chế xuất (DNCX). Văn bản này giúp thống nhất quy trình thực hiện giữa cơ quan hải quan địa phương và doanh nghiệp, đảm bảo vừa tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa quản lý chặt chẽ theo quy định pháp luật.
- Quy định về thủ tục thông báo và giám sát tiêu hủy phế liệu, phế thải
Theo hướng dẫn của Cục Giám sát quản lý về hải quan, quy trình tiêu hủy phế liệu, phế thải của doanh nghiệp chế xuất phải tuân thủ nghiêm ngặt các bước sau:
- Nghĩa vụ thông báo của doanh nghiệp: Trước khi tiến hành tiêu hủy phế liệu, phế thải hoặc phế phẩm phát sinh từ quá trình sản xuất, doanh nghiệp chế xuất phải gửi văn bản thông báo chi tiết về kế hoạch tiêu hủy cho Chi cục Hải quan quản lý trực tiếp.
- Thời hạn thông báo: Thông báo phải được gửi bằng văn bản giấy hoặc thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của hải quan chậm nhất là 05 ngày làm việc trước ngày thực hiện tiêu hủy.
- Nội dung thông báo: Doanh nghiệp phải giải trình rõ ràng về chủng loại phế liệu, phế thải, số lượng, lý do tiêu hủy, thời gian, địa điểm tiêu hủy và phương thức thực hiện tiêu hủy.
- Hình thức giám sát của cơ quan hải quan: Cơ quan hải quan sẽ áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro để quyết định việc cử công chức hải quan giám sát trực tiếp hay không giám sát trực tiếp quá trình tiêu hủy.
- Trách nhiệm tự giám sát và lưu trữ hồ sơ: Trong trường hợp cơ quan hải quan không giám sát trực tiếp, doanh nghiệp chế xuất phải tự thực hiện tiêu hủy theo đúng quy định pháp luật. Doanh nghiệp có trách nhiệm ghi hình, chụp ảnh chi tiết toàn bộ quá trình tiêu hủy và lưu giữ các tài liệu, hình ảnh này tại doanh nghiệp để phục vụ công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan hải quan khi có yêu cầu.
- Yêu cầu về bảo vệ môi trường trong quá trình xử lý phế thải
Việc tiêu hủy phế liệu, phế thải của doanh nghiệp chế xuất không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật hải quan mà còn phải tuân thủ tuyệt đối các quy định về bảo vệ môi trường:
- Lựa chọn đối tác xử lý chất thải: Doanh nghiệp chế xuất chỉ được phép chuyển giao phế liệu, phế thải cho các tổ chức, cá nhân có giấy phép hành nghề quản lý, xử lý chất thải phù hợp theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Hồ sơ nghiệm thu tiêu hủy: Sau khi hoàn thành việc tiêu hủy, doanh nghiệp chế xuất phải lập biên bản nghiệm thu hoặc biên bản xác nhận tiêu hủy có chữ ký, đóng dấu xác nhận của đại diện doanh nghiệp chế xuất và đơn vị thực hiện tiêu hủy. Biên bản này là chứng từ pháp lý bắt buộc phải lưu giữ trong hồ sơ hải quan của doanh nghiệp.
- Chính sách thuế và thủ tục hải quan khi thanh lý phế liệu vào nội địa
Công văn làm rõ sự khác biệt về nghĩa vụ thuế giữa hai trường hợp tiêu hủy hoàn toàn và bán thanh lý vào thị trường nội địa:
- Trường hợp tiêu hủy hoàn toàn: Phế liệu, phế thải phát sinh trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp chế xuất từ nguồn nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu, khi được tiêu hủy theo đúng quy định pháp luật, sẽ được miễn thuế nhập khẩu và không phải kê khai thuế giá trị gia tăng.
- Trường hợp bán, thanh lý vào thị trường nội địa: Nếu doanh nghiệp chế xuất không tiêu hủy mà bán phế liệu, phế thải còn giá trị thương mại vào thị trường nội địa, doanh nghiệp phải làm thủ tục hải quan thay đổi mục đích sử dụng. Người mua (doanh nghiệp nội địa) hoặc doanh nghiệp chế xuất (nếu được ủy quyền) phải đăng ký tờ khai hải quan mới, thực hiện kê khai và nộp đầy đủ thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng và các loại thuế khác (nếu có) theo quy định của pháp luật thuế hiện hành tại thời điểm chuyển đổi mục đích sử dụng.
| TỔNG CỤC HẢI QUAN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1447/GSQL-GQ2 | Hà Nội, ngày 07 tháng 5 năm 2019 |
Kính gửi: Công ty TNHH KISHIRO Việt Nam.
(Lô 55, KCN Nội Bài, Sóc Sơn, Hà Nội)
Trả lời công văn số 20190401-KVN ngày 24/4/2019 của Công ty TNHH KISHIRO Việt Nam về việc xử lý chất thải (phế thải) của DNCX, Cục Giám sát quản lý về hải quan - Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
1. Về việc phân loại phế thải (chất thải)
a) Theo quy định tại khoản khoản 2 Điều 4 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ thì tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phân loại chất thải tại nguồn nhằm mục đích tăng cường tái sử dụng, tái chế, đồng xử lý, xử lý và thu hồi năng lượng. Như vậy, căn cứ quy định nêu trên trách nhiệm của Công ty (chủ nguồn chất thải) phải phân loại chất thải ngay tại nguồn để thực hiện các biện pháp xử lý theo quy định.
b) Theo quy định tại khoản 12, khoản 16 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 thì chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác; phế liệu là vật liệu được thu hồi, phân loại, lựa chọn từ những vật liệu, sản phẩm đã bị loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng để sử dụng làm nguyên liệu cho một quá trình sản xuất khác.
Theo quy định tại khoản khoản 1, khoản 4 Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ thì chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác; chất thải rắn công nghiệp là chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 55 Thông tư số 38/2015/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại khoản 35 Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ Tài chính thì phế liệu là vật liệu loại ra trong quá trình gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu không còn giá trị sử dụng ban đầu được thu hồi để làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất khác; phế phẩm là thành phẩm, bán thành phẩm không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật (quy cách, kích thước, phẩm chất,...) bị loại ra trong quá trình gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu và không đạt chất lượng để xuất khẩu.
Như vậy, định danh về phế liệu và các dạng chất thải (phế thải) đã được quy định cụ thể, thống nhất từ Luật Bảo vệ môi trường đến các văn bản hướng dẫn nêu trên, đề nghị Công ty căn cứ các quy định và thực tế hoạt động sản xuất để phân loại phế liệu và chất thải (phế thải) cho phù hợp.
2. Về việc xử lý chất thải (phế thải)
Theo quy định tại khoản 4 Điều 44 Nghị định số 69/2018/NĐ-CP ngày 15/05/2018 của Chính phủ thì việc tiêu hủy các phế liệu, phế phẩm, phế thải (nếu có) chỉ được phép thực hiện sau khi có văn bản cho phép của Sở Tài nguyên - Môi trường và phải được thực hiện dưới sự giám sát của cơ quan Hải quan. Trường hợp không được phép hủy tại Việt Nam thì phải tái xuất theo chỉ định của bên đặt gia công.
Theo quy định tại khoản 7 Điều 75 Thông tư số 38/2015/TT-BTC được sửa đổi, bổ sung tại khoản 51 Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC ngày 20/4/2018 của Bộ Tài chính thì DNCX thực hiện xử lý phế thải theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. DNCX có trách nhiệm ghi chép sổ sách chi tiết, xuất trình cho cơ quan hải quan khi kiểm tra.
Vậy, trường hợp xử lý chất thải (phế thải) của DNCX đề nghị Công ty căn cứ các quy định nêu trên để thực hiện.
Cục Giám sát quản lý về hải quan - Tổng cục Hải quan trả lời Công ty TNHH KISHIRO Việt Nam biết. Trường hợp có vướng mắc phát sinh đề nghị Công ty liên hệ Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục để được hướng dẫn cụ thể./.
|
| KT. CỤC TRƯỞNG |
- 1 Luật bảo vệ môi trường 2014
- 2 Thông tư 38/2015/TT-BTC Quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 3 Nghị định 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu
- 4 Thông tư 39/2018/TT-BTC sửa đổi Thông tư 38/2015/TT-BTC quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 5 Nghị định 69/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Quản lý ngoại thương
- 1 Công văn 1221/GSQL-GQ2 năm 2013 thủ tục hải quan phế liệu của doanh nghiệp chế xuất bán vào nội địa và giám sát vận chuyển phế thải do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành
- 2 Công văn 527/GSQL-GQ2 năm 2016 về xuất khẩu phế liệu, phế thải có chứa vàng thu được sau quá trình sản xuất sản phẩm do Cục Giám sát quản lý về hải quan ban hành
- 3 Công văn 944/GSQL-GQ2 năm 2016 về thủ tục tiêu hủy phế liệu, phế phẩm, rác thải nguy hại do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành
- 4 Công văn 4273/TXNK-CST năm 2019 về chính sách thuế đối với doanh nghiệp chế xuất do Cục Thuế xuất nhập khẩu ban hành
- 1 Công văn 1221/GSQL-GQ2 năm 2013 thủ tục hải quan phế liệu của doanh nghiệp chế xuất bán vào nội địa và giám sát vận chuyển phế thải do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành
- 2 Luật bảo vệ môi trường 2014
- 3 Thông tư 38/2015/TT-BTC Quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 4 Nghị định 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu
- 5 Công văn 527/GSQL-GQ2 năm 2016 về xuất khẩu phế liệu, phế thải có chứa vàng thu được sau quá trình sản xuất sản phẩm do Cục Giám sát quản lý về hải quan ban hành
- 6 Công văn 944/GSQL-GQ2 năm 2016 về thủ tục tiêu hủy phế liệu, phế phẩm, rác thải nguy hại do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành
- 7 Thông tư 39/2018/TT-BTC sửa đổi Thông tư 38/2015/TT-BTC quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 8 Nghị định 69/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Quản lý ngoại thương
- 9 Công văn 4273/TXNK-CST năm 2019 về chính sách thuế đối với doanh nghiệp chế xuất do Cục Thuế xuất nhập khẩu ban hành