Công văn 148/2002/KHXX được ban hành bởi Tòa án nhân dân tối cao nhằm hướng dẫn thống nhất việc áp dụng các quy định tại Điều 46 (các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự) và Điều 47 (quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt) của Bộ luật Hình sự năm 1999 trong quá trình xét xử của các Tòa án.
Văn bản này áp dụng đối với các Tòa án nhân dân các cấp, Tòa án quân sự các cấp, các Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và các cơ quan, cá nhân tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự nhằm bảo đảm việc quyết định hình phạt được chính xác, khách quan và đúng pháp luật.
Hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 46 Bộ luật Hình sự
Công văn tập trung làm rõ cách hiểu và điều kiện áp dụng đối với một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, cụ thể bao gồm:
- Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả (Điểm b Khoản 1): Tình tiết này được áp dụng khi bị cáo hoặc người thân thích của bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra. Việc bồi thường, khắc phục phải có kết quả thực tế và được người bị hại hoặc cơ quan, tổ chức bị thiệt hại xác nhận.
- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (Điểm h Khoản 1): Chỉ được áp dụng khi hội đủ cả hai yếu tố là phạm tội lần đầu (chưa từng bị kết án, chưa bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi tương tự) và tội phạm thực hiện thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng theo phân loại của Bộ luật Hình sự.
- Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (Điểm p Khoản 1): Bị cáo phải khai báo đầy đủ, trung thực về hành vi phạm tội của mình và thể hiện sự day dứt, mong muốn sửa chữa sai lầm thông qua thái độ hợp tác với cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi cụ thể tại phiên tòa.
- Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ khác (Khoản 2): Tòa án có quyền coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ (như bị cáo là người có công với cách mạng, gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn không do lỗi của bị cáo, hoặc người bị hại cũng có một phần lỗi) nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án.
Hướng dẫn quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo Điều 47 Bộ luật Hình sự
Để áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự nhằm quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn, Tòa án phải tuân thủ các nguyên tắc chặt chẽ sau:
- Điều kiện về số lượng tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 46 chỉ mang tính chất tham khảo thêm, không được dùng làm căn cứ duy nhất để áp dụng Điều 47.
- Giới hạn quyết định hình phạt: Khi có đủ điều kiện, Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật (nếu điều luật có nhiều khung hình phạt) hoặc chuyển sang một loại hình phạt khác nhẹ hơn.
- Yêu cầu về lập luận trong bản án: Tòa án phải phân tích rõ ràng, chi tiết các tình tiết giảm nhẹ và lý do cụ thể trong phần nhận định của bản án trước khi quyết định áp dụng Điều 47, tránh việc áp dụng tùy tiện dẫn đến hình phạt quá nhẹ, không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Hiệu lực thi hành
Công văn 148/2002/KHXX có hiệu lực hướng dẫn kể từ ngày ban hành, là cơ sở pháp lý quan trọng để các Tòa án thống nhất nhận thức, bảo đảm tính đồng bộ và công bằng trong công tác xét xử hình sự trên phạm vi cả nước.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 148/2002/KHXX | Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2002 |
CÔNG VĂN
CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 148/2002/KHXX NGÀY 30 THÁNG 9 NĂM 2002 VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG ĐIỀU 46, 47 BLHS
Kính gửi: Toà án nhân dân thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam
Sau khi nghiên cứu Công văn số 25/TA ngày 6-5-2002 của Toà án nhân dân thị xã Hội An, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:
1. Về việc quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật Hình sự.
Theo tinh thần quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự, thì Toà án chỉ có thể quyết định một hình phạt nhẹ hơn dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định từ Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự. Như vậy, việc Toà án nào hoặc Hội đồng xét xử nào quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định khi bị cáo chỉ có một tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự (cho dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự) là trái với quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, cần lưu ý là theo quy định tại Khoản 3 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 1985 và hướng dẫn tại Mục B phần II Nghị quyết số 1-89/HĐTP ngày 19-4-1989 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự", thì khi có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên, trong đó chỉ cần có ít nhất một tình tiết được quy định tại Khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 1985, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn; do đó, đối với những hành vi phạm tội được thực hiện trước 0 giờ 00 ngày 01-7-2000 mà sau thời điểm này mới bị xét xử, căn cứ vào quy định tại Khoản 2 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999 và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ Công an "Hướng dẫn thi hành Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Mục 2 Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21-12-1999 của Quốc hội", thì Toà án vẫn có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật đã quy định khi có hai tình tiết giảm nhẹ trở lên mà trong đó chỉ có một tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 1985 hoặc Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999.
2. Về trường hợp bị cáo có bà ngoại là người được Nhà nước tặng danh hiệu Người mẹ Việt Nam anh hùng hoặc có cha, mẹ được tặng thưởng nhiều giấy khen, bằng khen trong quá trình học tập và công tác (không phải là huân, huy chương) thì có được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự hay không?
Một số tình tiết được coi là các tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự đã được hướng dẫn cụ thể tại Điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 4-8-2000 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao "Hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của Bộ luật Hình sự năm 1999". Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử có thể còn có những tình tiết khác cũng có thể được coi là tình tiết giảm nhẹ; vì vậy, cuối Điểm c này có hướng dẫn: "... khi xét xử, tuỳ từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội mà có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án". Như vậy, tình tiết bị cáo có bà ngoại là người được Nhà nước tặng danh hiệu Người mẹ Việt Nam anh hùng hoặc có cha, mẹ được tặng thưởng nhiều giấy khen, bằng khen trong quá trình học tập và công tác là thuộc vào trường hợp này và để có thể được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hay không phải xem xét từng trường hợp cụ thể.
Ví dụ: Bị cáo là người cháu được bà ngoại là mẹ Việt Nam anh hùng nuôi dưỡng từ nhỏ, là người thân duy nhất còn lại hoặc trường hợp bị cáo có cha, mẹ được tặng thưởng nhiều giấy khen, bằng khen về những thành tích xuất sắc trong công tác... thì khi xét xử Toà án có thể coi đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự, nhưng phải ghi rõ trong bản án.
Trên đây là ý kiến của Toà án nhân dân tối cao để quý Toà tham khảo trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.
|
| Đặng Quang Phương (Đã ký) |
- 1 Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ về việc hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ Luật Hình sự do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 2 Bộ luật Hình sự 1985
- 3 Thông tư liên tịch 02/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA hướng dẫn Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Mục 2 Nghị quyết 32/1999/QH10 do Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp - Bộ Công an ban hành
- 4 Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP về hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ Luật Hình sự năm 1999 do Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao ban hành
- 1 Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ về việc hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của Bộ Luật Hình sự do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 2 Bộ luật Hình sự 1985
- 3 Bộ Luật Hình sự 1999
- 4 Nghị quyết số 32/1999/NQ-QH10 về việc thi hành Bộ luật Hình sự do Quốc Hội ban hành
- 5 Thông tư liên tịch 02/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA hướng dẫn Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Mục 2 Nghị quyết 32/1999/QH10 do Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp - Bộ Công an ban hành
- 6 Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP về hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ Luật Hình sự năm 1999 do Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao ban hành
- 7 Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Hình sự do Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành