Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Nghị quyết số 32/1999/NQ-QH10 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 21 tháng 12 năm 1999 nhằm quy định chi tiết về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 1999. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc chuyển tiếp áp dụng pháp luật hình sự giữa Bộ luật Hình sự năm 1985 và Bộ luật Hình sự năm 1999, bảo đảm nguyên tắc nhân đạo và tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Nghị quyết này áp dụng đối với các cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra), người tiến hành tố tụng, người phạm tội, người đang chấp hành hình phạt, người đã chấp hành xong hình phạt và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình xử lý tội phạm và thi hành án hình sự trong giai đoạn chuyển tiếp từ ngày 01 tháng 07 năm 2000.

Nội dung cốt lõi của Nghị quyết (Từ Điều 1 đến Điều 4)

1. Hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 1)

  • Bộ luật Hình sự năm 1999 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2000.
  • Kể từ ngày Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực, Bộ luật Hình sự năm 1985 và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 (ban hành vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997) chính thức hết hiệu lực thi hành.

2. Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong giai đoạn chuyển tiếp (Điều 2)

Điều khoản này quy định chi tiết về nguyên tắc hồi tố theo hướng có lợi cho người phạm tội đối với các hành vi xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 07 năm 2000:

  • Trường hợp áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 (Hiệu lực hồi tố có lợi): Áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với hành vi phạm tội thực hiện trước ngày 01/07/2000 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử nếu điều luật đó xóa bỏ một tội phạm, xóa bỏ một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới; mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm án, xóa án tích hoặc các quy định khác có lợi cho người phạm tội.
  • Trường hợp không áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999: Đối với các hành vi phạm tội xảy ra trước ngày 01/07/2000 mà Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới, hoặc hạn chế các quyền lợi có lợi cho người phạm tội thì không áp dụng Bộ luật mới mà phải áp dụng các quy định tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1985 để giải quyết.
  • Xử lý đối với các bản án đã có hiệu lực pháp luật: Những bản án đã tuyên trước ngày 01/07/2000 đã có hiệu lực pháp luật thì không được căn cứ vào Bộ luật Hình sự năm 1999 để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, trừ trường hợp có những căn cứ pháp luật khác hoặc có quy định đặc biệt có lợi cho người bị kết án.
  • Chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân: Không thi hành hình phạt tử hình đối với người đã bị kết án tử hình mà Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định hình phạt tử hình đối với tội phạm đó, hoặc người bị kết án tử hình thuộc đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình theo Bộ luật mới (như người chưa thành niên, phụ nữ có thai khi phạm tội hoặc khi bị xét xử). Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm chuyển hình phạt tử hình của những người này thành hình phạt tù chung thân.
  • Miễn chấp hành hình phạt còn lại: Người đang chấp hành hình phạt hoặc đã được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt mà theo Bộ luật Hình sự năm 1999 hành vi của họ không còn bị coi là tội phạm nữa thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại và được coi là không có án tích.
  • Đình chỉ vụ án: Đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước ngày 01/07/2000 mà vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử nhưng theo Bộ luật Hình sự năm 1999 hành vi đó không cấu thành tội phạm thì phải đình chỉ vụ án.

3. Hướng dẫn áp dụng đối với một số tội phạm cụ thể (Điều 3)

  • Nghị quyết giao trách nhiệm cho các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn cụ thể việc áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với một số tội phạm cụ thể, đặc biệt là các tội phạm về kinh tế, chức vụ, môi trường và các tội phạm mới được bổ sung nhằm bảo đảm tính thống nhất trong việc nhận diện và xử lý tội phạm thực tế.

4. Trách nhiệm tổ chức thực hiện và hướng dẫn thi hành (Điều 4)

  • Trách nhiệm phối hợp: Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Công an trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ để hướng dẫn việc thi hành Nghị quyết này.
  • Rà soát văn bản quy phạm pháp luật: Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm rà soát toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về hình sự để tự mình sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc đề nghị Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ cho phù hợp với các quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 1999.
  • Tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Bộ luật Hình sự năm 1999 nhằm nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm hiệu quả.

Hiệu lực thi hành

Nghị quyết số 32/1999/NQ-QH10 có hiệu lực thi hành kể từ ngày công bố, tạo hành lang pháp lý chuyển tiếp rõ ràng, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người phạm tội theo tinh thần nhân đạo của Nhà nước, đồng thời giữ vững kỷ cương pháp luật trong giai đoạn chuyển giao giữa hai thế hệ Bộ luật Hình sự.

QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 32/1999/NQ-QH10

Hà Nội, ngày 21 tháng 12 năm 1999

NGHỊ QUYẾT

VỀ VIỆC THI HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ

QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;

QUYẾT NGHỊ

1. Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2000.

Bộ luật Hình sự này thay thế Bộ luật Hình sự được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 6 năm 1985 và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự được Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 12 năm 1989, ngày 12 tháng 8 năm 1991, ngày 22 tháng 12 năm 1992 và ngày 10 tháng 5 năm 1997.

Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tự mình hoặc phối hợp tổ chức việc rà soát các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự hiện hành để huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới; đề nghị Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới cho phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự này, bảo đảm hiệu lực của Bộ luật từ ngày 01 tháng 7 năm 2000.

2. Kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2000, Bộ luật Hình sự được áp dụng như sau:

a) Tất cả các điều khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng để điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2000;

b) Các điều luật xoá bỏ một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội thì được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2000 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xoá án tích;

c) Các điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không áp dụng đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2000 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, đang bị điều tra, truy tố, xét xử hoặc đối với người đang được xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt, xoá án tích; trong trường hợp này, vẫn áp dụng quy định tương ứng của các văn bản pháp luật hình sự trước đây để giải quyết;

d) Đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 7 năm 2000 và đã có bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, thì không được căn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự này có nội dung khác so với các điều luật đã được áp dụng khi tuyên án để kháng nghị giám đốc thẩm; trong trường hợp kháng nghị dựa vào căn cứ khác hoặc đã kháng nghị trước ngày 01 tháng 7 năm 2000, thì việc xét xử giám đốc thẩm phải tuân theo quy định tại điểm b và điểm c Mục này.

3. Kể từ ngày Bộ luật Hình sự này được công bố:

a) Không áp dụng hình phạt tử hình khi xét xử người phạm những tội mà Bộ luật Hình sự này đã bỏ hình phạt tử hình, đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi khi phạm tội hoặc khi xét xử;

b) Hình phạt tử hình đã tuyên đối với những người được nêu tại điểm a Mục này nhưng chưa thi hành, thì không thi hành nữa và được chuyển xuống hình phạt cao nhất mà Bộ luật Hình sự này quy định đối với hành vi phạm tội đó; trong trường hợp điều luật mới vẫn giữ hình phạt tử hình, thì đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, hình phạt tử hình đã tuyên được chuyển thành tù chung thân;

c) Không xử lý về hình sự đối với người thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự trước đây quy định là tội phạm nhưng Bộ luật Hình sự này không quy định là tội phạm; nếu vụ án đang được điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trong trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án, thì họ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trong trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì họ được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

d) Không xử lý về hình sự đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi về tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt đến bảy năm tù; nếu vụ án đang được điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trong trường hợp người đó đã bị kết án và đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án, thì họ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; nếu người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

đ) Những người đã chấp hành xong hình phạt về một tội mà Bộ luật Hình sự này không quy định là tội phạm nữa hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại theo điểm c và điểm d Mục này, thì đương nhiên được xoá án tích.

4. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Bộ luật Hình sự này trong cán bộ và nhân dân nhằm phát huy tác dụng của Bộ luật Hình sự trong đấu tranh phòng, chống tội phạm trên mọi lĩnh vực quản lý nhà nước và trong đời sống xã hội.

Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21tháng 12 năm 1999.

Nông Đức Mạnh

(Đã ký)

Văn bản liên quan nội dung
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị quyết số 32/1999/NQ-QH10 về việc thi hành Bộ luật Hình sự do Quốc Hội ban hành

Số hiệu: 32/1999/NQ-QH10
Loại văn bản: Nghị quyết
Ngày ban hành: 21/12/1999
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Nông Đức Mạnh
Ngày công báo: 29/02/2000
Số công báo: Số 8
Ngày hiệu lực: 05/01/2000
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Trách nhiệm hình sự
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị quyết số 32/1999/NQ-QH10 về việc thi hàn...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký