Nghị quyết số 32/1999/NQ-QH10 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 21 tháng 12 năm 1999 nhằm quy định chi tiết về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 1999. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc chuyển tiếp áp dụng pháp luật hình sự giữa Bộ luật Hình sự năm 1985 và Bộ luật Hình sự năm 1999, bảo đảm nguyên tắc nhân đạo và tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị quyết này áp dụng đối với các cơ quan tiến hành tố tụng (Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra), người tiến hành tố tụng, người phạm tội, người đang chấp hành hình phạt, người đã chấp hành xong hình phạt và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình xử lý tội phạm và thi hành án hình sự trong giai đoạn chuyển tiếp từ ngày 01 tháng 07 năm 2000.
Nội dung cốt lõi của Nghị quyết (Từ Điều 1 đến Điều 4)
1. Hiệu lực thi hành của Bộ luật Hình sự năm 1999 (Điều 1)
- Bộ luật Hình sự năm 1999 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2000.
- Kể từ ngày Bộ luật Hình sự năm 1999 có hiệu lực, Bộ luật Hình sự năm 1985 và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 (ban hành vào các năm 1989, 1991, 1992, 1997) chính thức hết hiệu lực thi hành.
2. Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong giai đoạn chuyển tiếp (Điều 2)
Điều khoản này quy định chi tiết về nguyên tắc hồi tố theo hướng có lợi cho người phạm tội đối với các hành vi xảy ra trước 0 giờ 00 ngày 01 tháng 07 năm 2000:
- Trường hợp áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 (Hiệu lực hồi tố có lợi): Áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với hành vi phạm tội thực hiện trước ngày 01/07/2000 mà sau thời điểm đó mới bị phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử nếu điều luật đó xóa bỏ một tội phạm, xóa bỏ một hình phạt, một tình tiết tăng nặng; quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới; mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm án, xóa án tích hoặc các quy định khác có lợi cho người phạm tội.
- Trường hợp không áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999: Đối với các hành vi phạm tội xảy ra trước ngày 01/07/2000 mà Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới, hoặc hạn chế các quyền lợi có lợi cho người phạm tội thì không áp dụng Bộ luật mới mà phải áp dụng các quy định tương ứng của Bộ luật Hình sự năm 1985 để giải quyết.
- Xử lý đối với các bản án đã có hiệu lực pháp luật: Những bản án đã tuyên trước ngày 01/07/2000 đã có hiệu lực pháp luật thì không được căn cứ vào Bộ luật Hình sự năm 1999 để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, trừ trường hợp có những căn cứ pháp luật khác hoặc có quy định đặc biệt có lợi cho người bị kết án.
- Chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân: Không thi hành hình phạt tử hình đối với người đã bị kết án tử hình mà Bộ luật Hình sự năm 1999 không quy định hình phạt tử hình đối với tội phạm đó, hoặc người bị kết án tử hình thuộc đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình theo Bộ luật mới (như người chưa thành niên, phụ nữ có thai khi phạm tội hoặc khi bị xét xử). Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm chuyển hình phạt tử hình của những người này thành hình phạt tù chung thân.
- Miễn chấp hành hình phạt còn lại: Người đang chấp hành hình phạt hoặc đã được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt mà theo Bộ luật Hình sự năm 1999 hành vi của họ không còn bị coi là tội phạm nữa thì được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại và được coi là không có án tích.
- Đình chỉ vụ án: Đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước ngày 01/07/2000 mà vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử nhưng theo Bộ luật Hình sự năm 1999 hành vi đó không cấu thành tội phạm thì phải đình chỉ vụ án.
3. Hướng dẫn áp dụng đối với một số tội phạm cụ thể (Điều 3)
- Nghị quyết giao trách nhiệm cho các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn cụ thể việc áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với một số tội phạm cụ thể, đặc biệt là các tội phạm về kinh tế, chức vụ, môi trường và các tội phạm mới được bổ sung nhằm bảo đảm tính thống nhất trong việc nhận diện và xử lý tội phạm thực tế.
4. Trách nhiệm tổ chức thực hiện và hướng dẫn thi hành (Điều 4)
- Trách nhiệm phối hợp: Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Công an trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ để hướng dẫn việc thi hành Nghị quyết này.
- Rà soát văn bản quy phạm pháp luật: Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm rà soát toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về hình sự để tự mình sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ hoặc đề nghị Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ cho phù hợp với các quy định mới của Bộ luật Hình sự năm 1999.
- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật: Các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Bộ luật Hình sự năm 1999 nhằm nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm hiệu quả.
Hiệu lực thi hành
Nghị quyết số 32/1999/NQ-QH10 có hiệu lực thi hành kể từ ngày công bố, tạo hành lang pháp lý chuyển tiếp rõ ràng, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người phạm tội theo tinh thần nhân đạo của Nhà nước, đồng thời giữ vững kỷ cương pháp luật trong giai đoạn chuyển giao giữa hai thế hệ Bộ luật Hình sự.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 32/1999/NQ-QH10 | Hà Nội, ngày 21 tháng 12 năm 1999 |
NGHỊ QUYẾT
VỀ VIỆC THI HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ
QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
QUYẾT NGHỊ
1. Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2000.
Bộ luật Hình sự này thay thế Bộ luật Hình sự được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 6 năm 1985 và các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự được Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 12 năm 1989, ngày 12 tháng 8 năm 1991, ngày 22 tháng 12 năm 1992 và ngày 10 tháng 5 năm 1997.
Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tự mình hoặc phối hợp tổ chức việc rà soát các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự hiện hành để huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới; đề nghị Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới cho phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự này, bảo đảm hiệu lực của Bộ luật từ ngày 01 tháng 7 năm 2000.
2. Kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2000, Bộ luật Hình sự được áp dụng như sau:
4. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Bộ luật Hình sự này trong cán bộ và nhân dân nhằm phát huy tác dụng của Bộ luật Hình sự trong đấu tranh phòng, chống tội phạm trên mọi lĩnh vực quản lý nhà nước và trong đời sống xã hội.
Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21tháng 12 năm 1999.
| Nông Đức Mạnh (Đã ký) |
- 1 Công văn về việc thi hành mục 3 Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự
- 2 Công văn về việc áp dụng điểm c mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội "về việc thi hành BLHS"
- 3 Thông tư liên bộ 01/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA hướng dẫn thi hành Mục 3 Nghị quyết 32/1999/QH10 và Nghị quyết 229/2000/NQ-UBTVQH10 về việc thi hành Bộ luật Hình sự do Bộ Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp - Bộ công an ban hành
- 4 Thông tư liên tịch 02/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA hướng dẫn Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Mục 2 Nghị quyết 32/1999/QH10 do Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp - Bộ Công an ban hành
- 5 Nghị quyết số 229/2000/NQ-UBTVQH10 về việc triển khai thực hiện Mục 3 Nghị quyết của Quốc hội "Về việc thi hành Bộ luật Hình sự" do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành
- 1 Bộ luật Hình sự 1985
- 2 Luật Hình sự sửa đổi 1989
- 3 Luật Hình sự sửa đổi 1991
- 4 Hiến pháp năm 1992
- 5 Luật Hình sự sửa đổi 1992
- 6 Luật hình sự sửa đổi 1997
- 7 Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật Hình sự do Quốc hội ban hành
- 8 Bộ Luật Hình sự 1999
- 9 Công văn về việc thi hành mục 3 Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự
- 10 Công văn về việc áp dụng điểm c mục 3 Nghị quyết số 32 của Quốc hội "về việc thi hành BLHS"
- 11 Thông tư liên bộ 01/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA hướng dẫn thi hành Mục 3 Nghị quyết 32/1999/QH10 và Nghị quyết 229/2000/NQ-UBTVQH10 về việc thi hành Bộ luật Hình sự do Bộ Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp - Bộ công an ban hành
- 12 Thông tư liên tịch 02/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA hướng dẫn Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Mục 2 Nghị quyết 32/1999/QH10 do Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp - Bộ Công an ban hành
- 13 Nghị quyết số 229/2000/NQ-UBTVQH10 về việc triển khai thực hiện Mục 3 Nghị quyết của Quốc hội "Về việc thi hành Bộ luật Hình sự" do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành
- 14 Công văn 148/2002/KHXX của Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự