Tổng quan về Công văn 2067/TCT-HTQT
Công văn 2067/TCT-HTQT do Tổng cục Thuế ban hành hướng dẫn về việc áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập giữa Việt Nam và Singapore. Văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc làm rõ các quy định pháp lý, giúp các doanh nghiệp và cá nhân có hoạt động kinh doanh, thu nhập liên quốc gia xác định đúng nghĩa vụ thuế của mình, tránh việc bị đánh thuế trùng lặp hoặc bỏ sót nghĩa vụ thuế.
Phạm vi áp dụng của Hiệp định (Điều 1)
Theo hướng dẫn, phạm vi áp dụng đối với đối tượng được quy định cụ thể như sau:
- Hiệp định áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức là đối tượng cư trú của một hoặc cả hai nước ký kết (Việt Nam và Singapore).
- Xác định rõ tư cách người nộp thuế để áp dụng các ưu đãi thuế quan theo Hiệp định, ngăn ngừa các trường hợp lạm dụng Hiệp định thuế (treaty shopping).
Các loại thuế thuộc phạm vi áp dụng (Điều 2)
Hiệp định quy định rõ các loại thuế được áp dụng nhằm đảm bảo tính thống nhất trong quá trình thực thi:
- Tại Việt Nam: Áp dụng đối với thuế thu nhập cá nhân (PIT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (CIT).
- Tại Singapore: Áp dụng đối với thuế thu nhập (income tax) của Singapore.
- Hiệp định cũng sẽ áp dụng đối với các loại thuế có tính chất tương tự hoặc về cơ bản thay thế cho các loại thuế nêu trên được ban hành sau ngày ký Hiệp định.
Các định nghĩa chung quan trọng (Điều 3)
Để đảm bảo việc hiểu và áp dụng thống nhất các thuật ngữ pháp lý, Công văn nhấn mạnh các định nghĩa cốt lõi:
- "Đối tượng" bao gồm cá nhân, công ty và bất kỳ tổ chức nào khác được coi là một thực thể để phục vụ cho mục đích áp dụng thuế.
- "Doanh nghiệp của một nước ký kết" và "Doanh nghiệp của nước ký kết kia" tương ứng là doanh nghiệp được điều hành bởi đối tượng cư trú của nước đó.
- Định nghĩa về cơ quan có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp và thực thi Hiệp định (Bộ Tài chính hoặc đại diện được ủy quyền của Bộ Tài chính đối với Việt Nam).
Xác định đối tượng cư trú thuế (Điều 4)
Đây là điều khoản mấu chốt để xác định quyền đánh thuế của mỗi quốc gia đối với thu nhập phát sinh:
- Tiêu chuẩn xác định: Đối tượng cư trú là bất kỳ người nào, theo luật pháp của nước đó, có nghĩa vụ nộp thuế tại đó do có nhà ở, thời gian cư trú, trụ sở điều hành hoặc các tiêu chuẩn tương tự khác.
- Quy tắc phân xử (Tie-breaker rules) đối với cá nhân: Trường hợp cá nhân là đối tượng cư trú của cả hai nước, tư cách cư trú sẽ được xác định theo thứ tự ưu tiên: nơi có nhà ở thường trú, nơi có các quan hệ cá nhân và kinh tế chặt chẽ hơn (trung tâm của các quyền lợi sống), nơi thường trú ngụ, hoặc quốc tịch.
- Đối với tổ chức, doanh nghiệp: Nếu một tổ chức là đối tượng cư trú của cả hai nước, tổ chức đó sẽ được coi là đối tượng cư trú của nước nơi có trụ sở điều hành thực tế (place of effective management).
Ý nghĩa thực tiễn của hướng dẫn
Việc làm rõ các điều khoản từ Điều 1 đến Điều 4 tại Công văn 2067/TCT-HTQT giúp người nộp thuế thiết lập nền tảng pháp lý vững chắc trước khi áp dụng các điều khoản chuyên sâu hơn về thuế đối với thu nhập từ hoạt động kinh doanh, chuyển nhượng tài sản, tiền lãi cổ phần, tiền bản quyền hoặc thu nhập từ lao động làm công.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2067/TCT-HTQT | Hà Nội, ngày 16 tháng 06 năm 2011 |
Kính gửi: Cục Thuế TP. Hà Nội
Trả lời công văn số 4650/CT-KT1 ngày 30/3/2011 của Cục Thuế TP. Hà Nội đề nghị hướng dẫn về chính sách áp dụng Hiệp định thuế giữa Việt Nam - Singapore (sau đây gọi là Hiệp định) đối với Hợp đồng dịch vụ bán lại và xúc tiến bán hàng (sau đây gọi là Hợp đồng) ký kết giữa Công ty Alibaba.com Singapore E-Commerce Private Limited của Singapore (sau đây gọi là Công ty Alibaba) và Công ty cổ phần đầu tư và công nghệ OSB (sau đây gọi là Công ty OSB), Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Khoản 6, Điều 5 của Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và Singapore (sau đây gọi là Hiệp định) quy định: “Một xí nghiệp của một Nước ký kết sẽ không được coi là có cơ sở thường trú ở Nước ký kết kia nếu xí nghiệp đó chỉ thực hiện hoạt động kinh doanh tại Nước kia thông qua một đại lý môi giới, một đại lý hoa hồng hoặc bất kỳ một đại lý nào khác có tư cách độc lập với điều kiện những đối tượng này chỉ hoạt động trong khuôn khổ kinh doanh thông thường của họ”.
Theo quy định tại Hợp đồng, mặc dù về hình thức, Công ty OSB là một đại lý độc lập bán hàng không độc quyền cho Công ty Alibaba, nhưng tại một số nội dung quy định tại Hợp đồng, cụ thể tại các Điều 3.2, 3.4, Điều 3.5 và Điều 5.4, cho thấy trong việc thực hiện Hợp đồng này, Công ty OSB (sau đây gọi là Đại lý) đã không hoàn toàn độc lập. Cụ thể như sau:
Theo quy định tại Điều 5.2 và Điều 7.3, Đại lý sẽ mua dịch vụ (Tư cách thành viên) để bán lại cho khách hàng (Thành viên trả phí), nhưng việc mua và bán lại này chịu các chi phối dưới đây:
- Đại lý phải cung cấp dịch vụ độc quyền do Alibaba.com liên quan đến kinh doanh B2B; trừ khi được chấp thuận bằng văn bản của Alibaba.com, Đại lý không được kí bất kì hợp đồng nào hoặc quan hệ kinh doanh nào mà bị xem xét hợp lý là cạnh tranh với Alibaba.com hoặc Nhóm Alibaba.com (Điều 3.4). Trong khi đó, Alibaba.com lại giữ quyền chỉ định đại lý khác làm dịch vụ nếu họ muốn (Điều 3.5).
- Dù đại lý có quyền quyết định cuối cùng về thiết lập giá bán lẻ dịch vụ nhưng đại lý đồng ý tham khảo giá đề xuất của Alibaba.com và thảo luận với Alibaba.com nếu muốn xác định một mức giá khác với mức giá do Alibaba.com khuyến nghị (Điều 4.3). Như vậy, Đại lý không được độc lập trong việc xác định giá bán lại dịch vụ.
- Về khách hàng của Đại lý (các Thành viên trả phí):
+ Mặc dù các khách hàng của Đại lý là do Đại lý tìm được, nhưng vẫn phải chịu sự chấp thuận của Alibaba.com: “Liên quan đến thành viên trả phí, bất kỳ thành viên trả phí nào, tùy thuộc vào chấp thuận của Alibaba.com” (Điều 1.1 (1)). Như vậy, Đại lý không được độc lập trong việc quyết định cuối cùng về khách hàng có được mua dịch vụ hay không.
+ Đại lý không được thu hút khách hàng ngoài Khu vực Đại lý nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản của Alibaba.com (Điều 3.2). Như vậy, Đại lý không được độc lập trong việc xác định phạm vi lãnh thổ của khách hàng.
+ Trước khi tham gia vào Hợp đồng bán dịch vụ (Hợp đồng đăng kí) với khách hàng, Đại lý phải tuân thủ các chỉ thị bằng văn bản của Alibaba.com (Điều 5.4). Như vậy, Đại lý không được độc lập trong việc kí kết hợp đồng với khách hàng.
- Về triển khai Hợp đồng:
+ Về nguồn nhân lực: Đại lý phải duy trì số lượng nhân viên đủ tiêu chuẩn và có kĩ năng theo quy định tại Hợp đồng và cố gắng hết sức đáp ứng Chỉ tiêu nhân sự phụ trách (Điều 5.6 b). Như vậy, Đại lý không toàn quyền trong việc sử dụng nguồn nhân lực của mình trong việc thực hiện Hợp đồng.
+ Về nhà thầu phụ của Đại lý (Đại lý thứ cấp): Mặc dù Đại lý được chỉ định Đại lý thứ cấp nhưng “Alibaba.com có quyền, hoàn toàn theo ý mình, yêu cầu Đại lý chấm dứt ngay lập tức việc chỉ định và hợp tác với bất kì Đại lý thứ cấp nào vào từng thời điểm cụ thể” (Điều 6.1).
Với các nội dung trên, không thể khẳng định Công ty OSB đã hoạt động trong khuôn khổ kinh doanh thông thường hoặc không chịu sự kiểm soát và hướng dẫn về cách tiến hành hoạt động kinh doanh của Công ty Alibaba.com. Việc thực hiện Hợp đồng với Công ty Alibaba đã làm cho hoạt động kinh doanh của Công ty OSB không được coi là độc lập với Công ty Alibaba. Do đó, việc thực hiện Hợp đồng này đã tạo ra một cơ sở thường trú của Công ty Alibaba tại Việt Nam theo quy định của Khoản 6, Điều 5 Hiệp định như đã nêu trên.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế biết và hướng dẫn Công ty OSB thực hiện. Yêu cầu Cục Thuế thực hiện theo đúng quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật về thuế và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan và hướng dẫn tại công văn này./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.