Tóm tắt Công văn 2785/LĐTBXH-LĐTL năm 2014 về trợ cấp thôi việc cho người lao động
Công văn 2785/LĐTBXH-LĐTL do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành nhằm hướng dẫn các cơ quan, doanh nghiệp thực hiện thống nhất quy định của pháp luật về việc tính và chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động.
Các nội dung cốt lõi của Công văn 2785/LĐTBXH-LĐTL:
- Xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc: Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc trước đó.
- Nguyên tắc làm tròn đối với tháng lẻ: Trường hợp thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc có tháng lẻ (kể cả trường hợp người lao động có thời gian làm việc thực tế từ đủ 12 tháng trở lên nhưng sau khi trừ đi thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp vẫn còn tháng lẻ) thì được làm tròn như sau: Từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm làm việc; Từ đủ 06 tháng đến dưới 12 tháng được tính bằng 01 năm làm việc.
- Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc: Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc, bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác (nếu có) theo quy định của pháp luật lao động.
- Trách nhiệm chi trả của người sử dụng lao động: Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên khi hợp đồng lao động chấm dứt hợp pháp theo quy định của Bộ luật Lao động.
Phân tích chi tiết và hướng dẫn áp dụng thực tế:
Về việc trừ thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp: Kể từ ngày 01/01/2009 (thời điểm chính sách bảo hiểm thất nghiệp bắt đầu có hiệu lực), thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp sẽ không được tính vào thời gian để người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Quy định này nhằm tránh việc người lao động nhận trùng lặp hai chế độ bảo hiểm thất nghiệp và trợ cấp thôi việc cho cùng một khoảng thời gian làm việc.
Về cách xử lý số dư thời gian lẻ: Việc áp dụng nguyên tắc làm tròn tháng lẻ giúp bảo vệ quyền lợi tối đa cho người lao động. Ví dụ, nếu sau khi trừ đi thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp, người lao động còn dư ra 2 tháng làm việc thực tế, khoảng thời gian này sẽ được làm tròn thành 0,5 năm để tính trợ cấp. Nếu số tháng dư là 7 tháng, sẽ được làm tròn thành 1 năm.
Về nguồn kinh phí chi trả: Doanh nghiệp có trách nhiệm chủ động nguồn tài chính để thanh toán đầy đủ, đúng hạn các khoản trợ cấp cho người lao động khi chấm dứt quan hệ lao động, đảm bảo ổn định đời sống cho người lao động và hạn chế tối đa các tranh chấp lao động phát sinh.
| BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2785/LĐTBXH-LĐTL | Hà Nội, ngày 05 tháng 08 năm 2014 |
Kính gửi: Công đoàn Công ty TNHH Xổ số kiến thiết Bình Thuận
(Đ/c: 01 Nguyễn Tất Thành, Tp. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận)
Trả lời công văn số 13/CĐCS ngày 29/7/2014 của Công đoàn Công ty TNHH Xổ số kiến thiết Bình Thuận về việc giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc cho người lao động, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:
1. Theo quy định tại Khoản 1, 2 Điều 48 của Bộ luật lao động năm 2012 thì khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.
Hiện nay, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đang trình Chính phủ Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động, trong đó có quy định về việc chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động có thời gian làm việc ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước và chuyển đến làm việc tại doanh nghiệp trước ngày 01/01/1995. Vì vậy, trong khi chờ Nghị định này ban hành, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đối với thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật lao động nêu trên và ghi nhận thời gian người lao động làm việc tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước chuyển đến làm việc tại doanh nghiệp trước ngày 01/01/1995 để chi trả trợ cấp thôi việc khi có quy định mới.
2. Theo quy định tại khoản 3 Điều 48 của Bộ luật lao động thì tiền lương để tính trợ cấp thôi việc làm tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc. Tiền lương do hai bên thỏa thuận và ghi trong hợp đồng lao động theo quy định tại Khoản 1, Điều 90 của Bộ luật lao động.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời để Công đoàn cơ sở biết, hướng dẫn người lao động và có ý kiến với người sử dụng lao động để thực hiện./.
|
| TL. BỘ TRƯỞNG |
- 1 Công văn 2401/LĐTBXH-LĐTL năm 2014 trợ cấp thôi việc cho người lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 2 Công văn 2618/LĐTBXH-LĐTL năm 2014 trợ cấp thôi việc cho người lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 3 Công văn 3957/LĐTBXH-LĐTL năm 2014 về chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 1 Luật Bảo hiểm xã hội 2006
- 2 Bộ Luật lao động 2012
- 3 Công văn 2401/LĐTBXH-LĐTL năm 2014 trợ cấp thôi việc cho người lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 4 Công văn 2618/LĐTBXH-LĐTL năm 2014 trợ cấp thôi việc cho người lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- 5 Công văn 3957/LĐTBXH-LĐTL năm 2014 về chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành