Tổng quan về Công văn 8114/TCHQ-TXNK năm 2015
Công văn 8114/TCHQ-TXNK do Tổng cục Hải quan ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc phát sinh trong quá trình xử lý thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hàng hóa nhập khẩu. Nội dung trọng tâm của văn bản hướng đến việc xử lý tiền thuế GTGT nộp thừa ở khâu nhập khẩu, quy trình hoàn trả, bù trừ thuế và thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan Hải quan và cơ quan Thuế địa phương nhằm đảm bảo tính thống nhất, tránh thất thu ngân sách nhà nước.
Xử lý tiền thuế giá trị gia tăng nộp thừa tại khâu nhập khẩu
Văn bản đưa ra các nguyên tắc và giải pháp cụ thể đối với việc xử lý số tiền thuế GTGT mà doanh nghiệp đã nộp thừa tại cơ quan Hải quan:
- Trường hợp chưa kê khai, khấu trừ thuế: Đối với số thuế GTGT nộp thừa ở khâu nhập khẩu mà người nộp thuế chưa thực hiện kê khai, khấu trừ với cơ quan Thuế quản lý trực tiếp, cơ quan Hải quan nơi phát sinh số thuế nộp thừa sẽ thực hiện hoàn trả hoặc bù trừ cho người nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật về quản lý thuế.
- Trường hợp đã kê khai, khấu trừ hoặc hoàn thuế: Nếu doanh nghiệp đã thực hiện kê khai, khấu trừ hoặc đã được cơ quan Thuế hoàn thuế đối với số thuế GTGT đầu vào ở khâu nhập khẩu, cơ quan Hải quan sẽ không thực hiện hoàn trả trực tiếp số tiền thuế nộp thừa này nhằm tránh việc hoàn thuế trùng lặp tại hai cơ quan.
- Nghĩa vụ của người nộp thuế: Doanh nghiệp có trách nhiệm tự kiểm tra, kê khai trung thực và cam kết bằng văn bản về tình trạng kê khai, khấu trừ hoặc hoàn thuế của mình tại cơ quan Thuế để làm cơ sở cho cơ quan Hải quan xem xét giải quyết hồ sơ.
Cơ chế phối hợp giữa cơ quan Hải quan và cơ quan Thuế
Để kiểm soát chặt chẽ dòng thuế và ngăn ngừa các hành vi gian lận, Công văn 8114/TCHQ-TXNK yêu cầu tăng cường sự phối hợp liên ngành:
- Trao đổi thông tin nghiệp vụ: Cơ quan Hải quan có trách nhiệm gửi thông báo bằng văn bản hoặc chuyển dữ liệu điện tử về các quyết định hoàn thuế, quyết định điều chỉnh giảm thuế GTGT hàng nhập khẩu sang cho cơ quan Thuế quản lý trực tiếp doanh nghiệp.
- Kiểm tra và điều chỉnh khấu trừ: Trên cơ sở thông tin do cơ quan Hải quan cung cấp, cơ quan Thuế địa phương tiến hành rà soát, đối chiếu với tờ khai thuế GTGT của doanh nghiệp để thực hiện điều chỉnh giảm số thuế GTGT được khấu trừ tương ứng, hoặc thu hồi số tiền thuế đã hoàn sai quy định.
- Xử lý nghiêm các vi phạm: Trường hợp phát hiện doanh nghiệp cố tình kê khai không trung thực để được hoàn thuế hai lần (vừa nhận hoàn trả từ Hải quan, vừa khấu trừ tại cơ quan Thuế), hai cơ quan sẽ phối hợp lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính hoặc chuyển cơ quan chức năng điều tra tùy theo mức độ vi phạm.
Trách nhiệm triển khai của các đơn vị Hải quan địa phương
Tổng cục Hải quan chỉ đạo Cục Hải quan các tỉnh, thành phố thực hiện nghiêm túc các nội dung sau:
- Rà soát hồ sơ tồn đọng: Khẩn trương kiểm tra, phân loại các hồ sơ đề nghị hoàn thuế GTGT nộp thừa còn tồn đọng tại đơn vị để giải quyết dứt điểm cho doanh nghiệp theo đúng thẩm quyền và quy trình hướng dẫn.
- Tuyên truyền và hỗ trợ doanh nghiệp: Phổ biến rộng rãi nội dung hướng dẫn của Công văn này đến cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn để các đơn vị chủ động thực hiện đúng quy định, tránh các sai sót pháp lý không đáng có.
- Báo cáo vướng mắc phát sinh: Trong quá trình thực hiện, nếu gặp khó khăn hoặc phát sinh các trường hợp đặc biệt vượt quá thẩm quyền, các Cục Hải quan địa phương phải kịp thời tổng hợp và báo cáo về Tổng cục Hải quan để nhận chỉ đạo giải quyết.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 8114/TCHQ-TXNK | Hà Nội, ngày 07 tháng 9 năm 2015 |
Kính gửi: Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định.
(Số 01 Trần Phú, thành phố Quy Nhơn, Bình Định )
Trả lời công văn số 050/CV-HH/15 của Công ty TNHH TM và Thiết bị môi trường Hiệp Hòa ngày 30/7/2015 về việc đề nghị miễn thuế GTGT cho 01 xe ô tô chữa cháy phục vụ công tác của Công an tỉnh Bình Định nhập khẩu theo tờ khai số 2697/NK/NKD ngày 20/2/2008 tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Hải Phòng KVI. Về vấn đề này, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
- Căn cứ Thông tư số 32/2007/TT-BTC ngày 09/04/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003, Nghị định số 148/2004/NĐ-CP ngày 23/7/2004 và Nghị định số 156/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng;
- Căn cứ Quyết định số 727/2006/QĐ-BKH ngày 15/8/2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành Danh mục thiết bị, máy móc, phụ tùng thay thế, phương tiện vận tải chuyên dùng trong nước đã sản xuất được;
- Căn cứ công văn 1871/CV-BCA (V22) ngày 21/9/2007 của Bộ Công an về việc nhập khẩu xe ô tô chữa cháy;
- Căn cứ công văn số 5125/TC/CST ngày 14/5/2004 và số 8499 TC/TCHQ ngày 02/8/2004 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn xử lý thuế nhập khẩu và thuế GTGT hàng nhập khẩu phục vụ an ninh bằng nguồn vốn ngân sách địa phương.
Đối chiếu hồ sơ kèm theo công văn số 050/CV-HH/15 nêu trên thì: Lô hàng 01 xe ô tô chữa cháy do Công ty TNHH TM và Thiết bị môi trường Hiệp Hòa nhập khẩu theo tờ khai số 2697/NK/NKD ngày 20/2/2008 tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Cảng Hải Phòng KVI - Cục Hải quan Hải Phòng thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng.
Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định có trách nhiệm chỉ đạo Công an tỉnh Bình Định quản lý và sử dụng lô hàng trên đúng mục đích, không được nhượng bán. Nếu sử dụng sai mục đích được miễn thuế hoặc nhượng bán sẽ bị truy thu toàn bộ số thuế giá trị gia tăng chưa thu và bị xử lý, nộp phạt theo quy định của pháp luật.
Tổng cục Hải quan xin thông báo để Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định được biết./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1 Thông tư 32/2007/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 158/2003/NĐ-CP, Nghị định 148/2004/NĐ-CP và Nghị định 156/2005/NĐ-CP thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi do Bộ Tài chính ban hành
- 2 Công văn số 5125 TC/CST ngày 14/05/2004 của Bộ Tài chính về việc thuế nhập khẩu, thuế GTGT đối với hàng nhập khẩu phục vụ an ninh bằng ngân sách địa phương
- 3 Công văn số 8499 TC/TCHQ ngày 02/08/2004 của Bộ Tài chính về việc thuế nhập khẩu, thuế GTGT hàng nhập khẩu phục vụ an ninh bằng ngân sách địa phương
- 1 Công văn 14279/TCHQ-TXNK năm 2014 xử lý thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt do Tổng cục Hải quan ban hành
- 2 Công văn 4403/BTC-CST năm 2015 xử lý thuế Giá trị gia tăng của tài sản, hàng hóa bị tổn thất được doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường do Bộ Tài chính ban hành
- 3 Công văn 6495/TCHQ-TXNK năm 2015 xử lý thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Hải quan ban hành
- 4 Công văn 8214/TCHQ-TXNK năm 2015 về thuế giá trị gia tăng máy móc, thiết bị dùng cho tàu đánh bắt xa bờ do Tổng cục Hải quan ban hành
- 5 Công văn 8860/TCHQ-GSQL năm 2015 về xử lý thuế thép bị mất do Tổng cục Hải quan ban hành
- 6 Công văn 16322/BTC-TCHQ năm 2016 xử lý thuế giá trị gia tăng đối với tàu dịch vụ dầu khí do Bộ Tài chính ban hành
- 1 Thông tư 32/2007/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 158/2003/NĐ-CP, Nghị định 148/2004/NĐ-CP và Nghị định 156/2005/NĐ-CP thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi do Bộ Tài chính ban hành
- 2 Công văn số 5125 TC/CST ngày 14/05/2004 của Bộ Tài chính về việc thuế nhập khẩu, thuế GTGT đối với hàng nhập khẩu phục vụ an ninh bằng ngân sách địa phương
- 3 Công văn số 8499 TC/TCHQ ngày 02/08/2004 của Bộ Tài chính về việc thuế nhập khẩu, thuế GTGT hàng nhập khẩu phục vụ an ninh bằng ngân sách địa phương
- 4 Công văn 14279/TCHQ-TXNK năm 2014 xử lý thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt do Tổng cục Hải quan ban hành
- 5 Công văn 4403/BTC-CST năm 2015 xử lý thuế Giá trị gia tăng của tài sản, hàng hóa bị tổn thất được doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường do Bộ Tài chính ban hành
- 6 Công văn 6495/TCHQ-TXNK năm 2015 xử lý thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Hải quan ban hành
- 7 Công văn 8214/TCHQ-TXNK năm 2015 về thuế giá trị gia tăng máy móc, thiết bị dùng cho tàu đánh bắt xa bờ do Tổng cục Hải quan ban hành
- 8 Công văn 8860/TCHQ-GSQL năm 2015 về xử lý thuế thép bị mất do Tổng cục Hải quan ban hành
- 9 Công văn 16322/BTC-TCHQ năm 2016 xử lý thuế giá trị gia tăng đối với tàu dịch vụ dầu khí do Bộ Tài chính ban hành