Giới thiệu về Công văn số 04/TCT-DNK của Tổng cục Thuế
Công văn số 04/TCT-DNK do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng dành cho các cơ quan thuế địa phương và doanh nghiệp xuất khẩu. Nội dung công văn tập trung làm rõ các điều kiện, thủ tục và tính hợp lệ của chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa xuất khẩu – một trong những điều kiện tiên quyết và khắt khe nhất để doanh nghiệp được áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng (GTGT) 0% và thực hiện thủ tục hoàn thuế GTGT đầu vào.
1. Nguyên tắc cơ bản về chứng từ thanh toán qua ngân hàng để hoàn thuế GTGT
Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, để được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, doanh nghiệp phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng. Các nguyên tắc cốt lõi bao gồm:
- Tính hợp pháp của tài khoản giao dịch: Tiền thanh toán của phía nước ngoài phải được chuyển từ tài khoản của khách hàng nước ngoài mở tại ngân hàng ở nước ngoài hoặc ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam vào tài khoản của cơ sở kinh doanh Việt Nam mở tại ngân hàng được phép hoạt động theo quy định của pháp luật.
- Sự trùng khớp thông tin: Thông tin về tên người chuyển tiền, số tài khoản, tên người nhận tiền và số tiền thanh toán trên chứng từ báo có của ngân hàng phải hoàn toàn trùng khớp với các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng xuất khẩu hoặc các phụ lục hợp đồng kèm theo.
- Thời hạn thanh toán: Việc thanh toán phải được thực hiện trong thời hạn thanh toán quy định trong hợp đồng. Trường hợp có sự thay đổi về thời hạn thanh toán, doanh nghiệp phải có phụ lục hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận gia hạn trước khi đến hạn thanh toán.
2. Các trường hợp đặc biệt được coi là thanh toán qua ngân hàng
Tổng cục Thuế hướng dẫn cụ thể một số trường hợp thanh toán đặc thù vẫn được chấp nhận là thanh toán qua ngân hàng để phục vụ việc hoàn thuế GTGT, bao gồm:
- Thanh toán bù trừ công nợ: Trường hợp doanh nghiệp xuất khẩu có mua hàng hóa, dịch vụ của phía nước ngoài và thực hiện bù trừ công nợ giữa giá trị hàng hóa xuất khẩu với giá trị hàng hóa nhập khẩu. Điều kiện áp dụng là phương thức thanh toán này phải được quy định rõ trong hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng nhập khẩu và phải có biên bản đối chiếu công nợ có xác nhận của hai bên.
- Thanh toán ủy quyền qua bên thứ ba: Trường hợp phía nước ngoài ủy quyền cho bên thứ ba là tổ chức, cá nhân ở nước ngoài thực hiện thanh toán, hoặc doanh nghiệp Việt Nam ủy quyền cho bên thứ ba nhận tiền. Việc ủy quyền này phải được quy định rõ ràng trong hợp đồng xuất khẩu hoặc phụ lục hợp đồng trước khi thực hiện giao dịch thanh toán.
- Thanh toán bằng tài khoản vãng lai: Trường hợp phía nước ngoài thanh toán từ tài khoản tiền gửi thanh toán bằng ngoại tệ hoặc đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân nước ngoài mở tại ngân hàng thương mại hoạt động tại Việt Nam.
3. Các trường hợp chứng từ thanh toán không hợp lệ và hướng xử lý
Công văn cũng chỉ rõ các sai sót thường gặp khiến chứng từ thanh toán bị cơ quan thuế từ chối khi xét duyệt hồ sơ hoàn thuế:
- Thanh toán bằng tiền mặt: Mọi hình thức thanh toán bằng tiền mặt (kể cả nộp tiền mặt trực tiếp vào tài khoản của doanh nghiệp xuất khẩu) đều không được coi là thanh toán qua ngân hàng và không đủ điều kiện hoàn thuế GTGT.
- Không khớp thông tin chủ thể: Tiền chuyển về tài khoản của doanh nghiệp nhưng người chuyển tiền là một cá nhân hoặc tổ chức khác không có mối quan hệ pháp lý được thừa nhận trong hợp đồng xuất khẩu hoặc phụ lục hợp đồng.
- Thiếu chứng từ báo có: Doanh nghiệp chỉ cung cấp được sổ phụ ngân hàng hoặc giấy báo nợ của phía nước ngoài mà không có giấy báo có của ngân hàng phục vụ doanh nghiệp Việt Nam xác nhận tiền đã thực nhận.
4. Khuyến nghị của Tổng cục Thuế đối với doanh nghiệp xuất khẩu
Để hạn chế rủi ro bị xuất toán hoặc từ chối hoàn thuế GTGT, Tổng cục Thuế khuyến nghị các doanh nghiệp cần chủ động thực hiện các biện pháp sau:
- Rà soát kỹ hợp đồng thương mại: Đảm bảo các điều khoản về phương thức thanh toán, tài khoản giao dịch, đồng tiền thanh toán và bên thực hiện thanh toán được ghi nhận rõ ràng, chi tiết.
- Lưu trữ hồ sơ khoa học: Thiết lập hệ thống lưu trữ đồng bộ giữa tờ khai hải quan, hóa đơn thương mại, hợp đồng xuất khẩu, biên bản giao nhận hàng hóa và chứng từ báo có của ngân hàng để sẵn sàng cung cấp khi cơ quan thuế thực hiện thanh tra, kiểm tra.
- Chủ động giải trình: Khi phát hiện có sự sai lệch hoặc chậm trễ trong quá trình thanh toán từ phía đối tác nước ngoài, doanh nghiệp cần lập tức ký kết phụ lục hợp đồng điều chỉnh và chuẩn bị sẵn văn bản giải trình hợp lý trước khi nộp hồ sơ đề nghị hoàn thuế.
| TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 04/TCT-DNK | Hà Nội, ngày 03 tháng 01 năm 2006 |
| Kính gửi: | Công ty Đông Đô |
Trả lời công văn số 38/CV-ĐĐ ngày 14/12/2005 của Công ty Đông Đô đề nghị Tổng cục Thuế cho ý kiến về chứng từ thanh toán hàng hóa xuất khẩu liên quan đến hoàn thuế GTGT; Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Theo quy định tại điểm 1.2 Mục III Phần B Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003/NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng thì: Thanh toán qua ngân hàng là việc chuyển tiền từ ngân hàng của bên nhập khẩu sang ngân hàng của bên xuất khẩu để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ cho bên xuất khẩu theo các hình thức thanh toán phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của ngân hàng. Chứng từ thanh toán tiền là giấy báo có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản của ngân hàng bên nhập khẩu…
Trường hợp phía nước ngoài thanh toán từ tài khoản tiền gửi vãng lai tại Việt Nam phải thanh toán qua ngân hàng. Chứng từ thanh toán là giấy báo có của ngân hàng bên xuất khẩu về số tiền đã nhận được từ tài khoản vãng lai của người mua phía nước ngoài”.
Theo quy định trên, trường hợp doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa đã có đủ hợp đồng bán hàng hóa ký với tổ chức, cá nhân nước ngoài, tờ khai hải quan có xác nhận của cơ quan Hải quan đã xuất khẩu, hóa đơn GTGT bán hàng hóa nhưng thanh toán tiền hàng xuất khẩu không phải chuyển từ ngân hàng bên nhập khẩu sang ngân hàng bên xuất khẩu hoặc không phải từ tài khoản tiền gửi vãng lai của người nhập khẩu mở tại Việt Nam thì không đủ điều kiện để được hoàn thuế. Vì vậy trường hợp Bà Nguyễn Thị Kim Phượng đại diện cho bên nhập khẩu đến ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh Hà Tây nộp tiền thanh toán hàng nhập khẩu trực vào tài khoản của Công ty Đông Đô (bên xuất khẩu) thì Công ty Đông Đô không đủ điều kiện để được khấu trừ hoặc hoàn thuế đối với lô hàng xuất khẩu thanh toán theo hình thức trên.
Tổng cục Thuế thông báo để Công ty biết và thực hiện./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1 Công văn số 2623TCT/NV2 ngày 12/07/2002 của Bộ Tài chính - Tổng cục thuế về chứng từ thanh toán hàng xuất khẩu
- 2 Thông tư 120/2003/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 158/2003/NĐ-CP thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi do Bộ Tài chính ban hành
- 3 Công văn 4740/TCT-CS năm 2017 về hoàn thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành