Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Giới thiệu về Công văn số 118/2004/KHXX

Công văn số 118/2004/KHXX được Toà án nhân dân tối cao ban hành ngày 22/07/2004 nhằm hướng dẫn việc thi hành Mục 4 Nghị quyết số 32/2004/QH11 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003. Văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vướng mắc về thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong giai đoạn chuyển tiếp khi Bộ luật Tố tụng hình sự mới chính thức có hiệu lực.

Thẩm quyền xét xử hình sự của Tòa án nhân dân cấp huyện

Theo hướng dẫn tại Công văn số 118/2004/KHXX, việc xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện được thực hiện thống nhất như sau:

  • Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự về các tội phạm mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt từ 15 năm tù trở xuống.
  • Ngoại trừ các tội phạm đặc biệt thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp tỉnh bao gồm: các tội xâm phạm an ninh quốc gia; các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh; hoặc các vụ án có tính chất phức tạp, có yếu tố nước ngoài.
  • Việc phân định rõ ràng này nhằm thực hiện chủ trương tăng cường năng lực xét xử cho cấp cơ sở, giảm tải áp lực công việc cho Tòa án cấp tỉnh.

Hướng dẫn chuyển tiếp và xử lý các vụ án trong giai đoạn chuyển giao

Để đảm bảo hoạt động xét xử không bị gián đoạn và tránh việc đùn đẩy trách nhiệm giữa các cấp Tòa án, văn bản đưa ra các nguyên tắc xử lý cụ thể đối với các vụ án thụ lý trong giai đoạn chuyển tiếp:

  • Đối với các vụ án hình sự đã được Tòa án nhân dân cấp tỉnh thụ lý để xét xử sơ thẩm trước ngày 01/07/2004 nhưng chưa đưa ra xét xử: Tòa án nhân dân cấp tỉnh tiếp tục tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án theo thủ tục chung mà không chuyển giao vụ án cho Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết, kể cả khi vụ án đó thuộc thẩm quyền mới của Tòa án cấp huyện.
  • Đối với các vụ án hình sự phát sinh hoặc được thụ lý từ ngày 01/07/2004 trở đi: Việc xác định thẩm quyền xét xử sơ thẩm phải tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định mới của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và hướng dẫn tại Mục 4 Nghị quyết số 32/2004/QH11.
  • Trường hợp vụ án có nhiều bị cáo phạm nhiều tội khác nhau, trong đó có tội thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh và có tội thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện, thì toàn bộ vụ án sẽ do Tòa án nhân dân cấp tỉnh xét xử sơ thẩm để đảm bảo tính toàn diện, khách quan và đúng pháp luật.

Công tác tổ chức thực hiện và phối hợp liên ngành

Để việc thi hành Mục 4 Nghị quyết số 32/2004/QH11 đạt hiệu quả cao nhất, Toà án nhân dân tối cao yêu cầu các Tòa án địa phương thực hiện các biện pháp sau:

  • Chủ động phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan điều tra cùng cấp để rà soát, phân loại các vụ án đang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử nhằm xác định đúng thẩm quyền giải quyết ngay từ giai đoạn đầu.
  • Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ Thẩm phán, Thư ký Tòa án nhân dân cấp huyện để đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ mới khi thẩm quyền xét xử được mở rộng.
  • Kịp thời tổng hợp và báo cáo những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện về Tòa án nhân dân tối cao để có hướng dẫn giải quyết kịp thời, tránh tình trạng kéo dài thời hạn giải quyết vụ án gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 118/2004/KHXX
V/v thi hành Mục 4 Nghị quyết số 32/2004/QH11 của Quốc hội

Hà Nội, ngày 22 tháng 7 năm 2004

 

Kính gửi:

 - Các Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
 - Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà án nhân dân tối cao

 

Ngày 15-6-2004, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 5 đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 32/2004/QH11 “Về việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự”.

Mục 4 của Nghị quyết quy định:

“Kể từ ngày Bộ luật tố tụng dân sự được công bố cho đến ngày có hiệu lực:

a) Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Bộ luật tố tụng dân sự được công bố thì áp dụng theo quy định tương ứng tại Điều 73 và Điều 79 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Điều 77 và Điều 83 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Điều 75 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động;

b) Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động có hiệu lực pháp luật sau ngày Bộ luật tố tụng dân sự được công bố thì áp dụng theo quy định tại Điều 288 và Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự”.

Ngày 24-6-2004 Chủ tịch nước đã ký Lệnh số 13/2004/L/CTN về việc công bố Bộ luật tố tụng dân sự và Lệnh số 17/2004/L/CTN về việc công bố Nghị quyết số 32/2004/QH11.

Để thi hành đúng quy định tại Mục 4 nêu trên, Toà án nhân dân tối cao lưu ý một số điểm như sau:

1. Về việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động đã có hiệu lực pháp luật trước 0 giờ 00 ngày 24-6-2004 (ngày Bộ luật tố tụng dân sự được công bố).

a. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình chỉ được tiến hành trong thời hạn ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; việc kháng nghị theo hướng không gây thiệt hại cho bất cứ đương sự này thì không bị hạn chế về thời gian. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là một năm, kể từ ngày phát hiện được tình tiết quy định tại Điều 78 của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự; việc kháng nghị theo hướng không gây thiệt hại cho bất cứ đương sự nào không bị hạn chế về thời gian.

b. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định kinh tế là chín tháng và thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm là một năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

c. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc, tái thẩm đối với bản án, quyết định lao động là sáu tháng, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật; nếu việc kháng nghị có lợi cho người lao động, thì thời hạn đó là một năm.

2. Về việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động có hiệu lực pháp luật sau 0 giờ ngày 24-6-2004.

a. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động được tiến hành trong thời hạn chung là ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

b. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm đối với bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động được tiến hành trong thời hạn chung là một năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm quy định tại Điều 305 của Bộ luật tố tụng dân sự.

3. Về thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm

a. Đối với bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động đã có hiệu lực pháp luật mà bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm trước 0 giờ 00 ngày 24-6-2004, thì Hội đồng giám đốc thẩm có quyền quyết định theo quy định tương ứng tại Điều 77 của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, tại Điều 80 của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, tại Điều 78 của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động.

b. Đối với bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động đã có hiệu lực pháp luật mà bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm sau 0 giờ 00 ngày 24-6-2004 thì Hội đồng giám đốc thẩm có quyền quyết định theo quy định tại Điều 297 của Bộ luật tố tụng dân sự, cụ thể là:

- Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;

- Giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Toà án cấp dưới đã bị huỷ hoặc bị sửa;

- Huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại;

- Huỷ bản án, quyết định của Toà án đã xét xử vụ án và đình chỉ giải quyết vụ án.

Nhận được Công văn này, đề nghị các đồng chí Chánh án Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các đồng chí Chánh án Toà án dân sự, Toà án kinh tế, Toà án lao động, Toà án nhân dân tối cao cần phổ biến và quán triệt cho cán bộ, công chức trong cơ quan, đơn vị mình biết để bảo đảm thực hiện đúng quy định tại Mục 4 Nghị quyết số 32/2004/QH11 ngày 15-6-2004 của Quốc hội.

 

KT. CHÁNH ÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
PHÓ CHÁNH ÁN




Đặng Quang Phương

 

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Công văn số 118/2004/KHXX ngày 22/07/2004 của Toà án nhân dân tối cao về việc thi hành mục 4 Nghị quyết số 32/2004/QH11 của Quốc hội

Số hiệu: 118/2004/KHXX
Loại văn bản: Công văn
Ngày ban hành: 22/07/2004
Nơi ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
Người ký: Đặng Quang Phương
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 22/07/2004
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Thủ tục Tố tụng
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Công văn số 118/2004/KHXX ngày 22/07/2004 của...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký