Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

Ngày 15 tháng 06 năm 2004, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 32/2004/QH11 về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự nhằm quy định chi tiết lộ trình, chuyển tiếp và hướng dẫn áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 vào thực tiễn xét xử.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Nghị quyết này áp dụng đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động tại Việt Nam.

Nội dung cốt lõi của Nghị quyết (Từ Điều 1 đến Điều 4)

1. Hiệu lực thi hành của Bộ luật Tố tụng dân sự (Điều 1)

  • Bộ luật Tố tụng dân sự chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2005.
  • Kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực, các văn bản pháp luật trước đây quy định về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động sẽ hết hiệu lực thi hành, trừ trường hợp có quy định chuyển tiếp cụ thể khác.

2. Quy định chuyển tiếp đối với các vụ việc đã thụ lý trước ngày 01/01/2005 (Điều 2)

  • Đối với những vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động đã được Tòa án thụ lý trước ngày 01 tháng 01 năm 2005 nhưng chưa giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì từ ngày 01 tháng 01 năm 2005 phải áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết.
  • Đối với những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày 01 tháng 01 năm 2005 mà bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm sau ngày 01 tháng 01 năm 2005 thì căn cứ vào pháp luật tố tụng trước ngày 01 tháng 01 năm 2005 để giải quyết nội dung vụ án, nhưng trình tự, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm phải tuân theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự mới.
  • Các quyết định, hành vi tố tụng đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng trước đây thì vẫn có giá trị pháp lý và không bị xem xét lại theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự mới.

3. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện (Điều 3)

  • Xác định lộ trình thực hiện việc giao thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động cho Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nhằm giảm tải áp lực cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh.
  • Ủy ban thường vụ Quốc hội phối hợp với Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao tiến hành rà soát, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ, Thẩm phán để bảo đảm việc thực hiện thẩm quyền mới của Tòa án nhân dân cấp huyện được đồng bộ, thống nhất và hiệu quả trên phạm vi cả nước.

4. Tổ chức thực hiện và hướng dẫn thi hành (Điều 4)

  • Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp hướng dẫn thi hành Nghị quyết này và Bộ luật Tố tụng dân sự, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong hoạt động xét xử.
  • Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm khẩn trương rà soát các quy định hiện hành của pháp luật về tố tụng dân sự để tự mình hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới cho phù hợp với các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Hiệu lực thi hành

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành và được áp dụng song song cùng với thời điểm có hiệu lực của Bộ luật Tố tụng dân sự từ ngày 01 tháng 01 năm 2005.

QUỐC HỘI
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 32/2004/NQ-QH11

Hà Nội, ngày 15 tháng 6 năm 2004

NGHỊ QUYẾT

VỀ VIỆC THI HÀNH BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

QUỐC HỘI

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10;

QUYẾT NGHỊ

1. Bộ luật Tố tụng dân sự được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2005.

Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ngày 29 tháng 11 năm 1989, Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài ngày 17 tháng 4 năm 1993, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế ngày 16 tháng 3 năm 1994, Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài ngày 14 tháng 9 năm 1995 và những quy định về thủ tục giải quyết các vụ án lao động của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động ngày 11 tháng 4 năm 1996 hết hiệu lực kể từ ngày Bộ luật này có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại điểm 3 và điểm 4 của Nghị quyết này.

2. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, tự mình hoặc phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức việc rà soát các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự hiện hành để huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung, ban hành văn bản mới hoặc đề nghị Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội huỷ bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bảo đảm hiệu lực của Bộ luật này từ ngày 01 tháng 01 năm 2005.

3. Kể từ ngày Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực, những Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có đủ điều kiện thực hiện thì được giao thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự quy định tại Điều 33 của Bộ luật này; những Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh chưa đủ điều kiện thì tiếp tục thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm quy định tại khoản 1 Điều 11 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, khoản 1 Điều 13 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tếkhoản 1 Điều 12 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động, nhưng chậm nhất đến ngày 01 tháng 7 năm 2009, tất cả Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện thống nhất thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự quy định tại Điều 33 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án nhân dân tối cao phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Chính phủ đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định những Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh được thực hiện thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự quy định tại Điều 33 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình khẩn trương củng cố cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ của Toà án, Viện kiểm sát huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh chưa đủ điều kiện thực hiện để bảo đảm cho các Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện thống nhất thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự quy định tại Điều 33 của Bộ luật tố tụng dân sự.

4. Kể từ ngày Bộ luật tố tụng dân sự được công bố cho đến ngày có hiệu lực:

a) Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Bộ luật tố tụng dân sự được công bố thì áp dụng theo quy định tương ứng tại Điều 73 và Điều 79 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Điều 77 và Điều 83 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Điều 75 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động;

b) Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động có hiệu lực pháp luật sau ngày Bộ luật tố tụng dân sự được công bố thì áp dụng theo quy định tại Điều 288 và Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.

5. Các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động phát sinh trước ngày Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực mà các văn bản pháp luật trước đây không quy định thời hiệu khởi kiện và thời hiệu yêu cầu thì áp dụng thời hiệu quy định tại Điều 159 của Bộ luật tố tụng dân sự.

6. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Bộ luật tố tụng dân sự trong cán bộ, công chức và nhân dân nhằm góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, phát huy tác dụng của Bộ luật tố tụng dân sự trong bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

7. Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có trách nhiệm thực hiện và hướng dẫn thi hành Nghị quyết này.

Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15 tháng 6 năm 2004.

Nguyễn Văn An

(Đã ký)

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị quyết 32/2004/QH11 về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự do Quốc hội ban hành

Số hiệu: 32/2004/NQ-QH11
Loại văn bản: Nghị quyết
Ngày ban hành: 15/06/2004
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Nguyễn Văn An
Ngày công báo: 16/07/2004
Số công báo: Từ số 25 đến số 26
Ngày hiệu lực: 24/06/2004
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Thủ tục Tố tụng
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị quyết 32/2004/QH11 về việc thi hành Bộ l...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký