Tổng quan về Công văn số 1234/LĐTBXH-LĐTL
Công văn số 1234/LĐTBXH-LĐTL do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động. Văn bản tập trung làm rõ cách xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp, trách nhiệm chi trả của người sử dụng lao động trong các thời kỳ chuyển đổi cơ chế chính sách, và căn cứ tiền lương áp dụng để tính toán chế độ.
1. Nguyên tắc xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc
Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc được xác định là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trước đó. Hướng dẫn chi tiết bao gồm:
- Thời gian làm việc thực tế: Bao gồm thời gian làm việc theo hợp đồng lao động; thời gian thử việc; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản; thời gian nghỉ hằng năm và các ngày nghỉ lễ có hưởng lương theo quy định.
- Thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp: Gồm thời gian người sử dụng lao động và người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp; thời gian được tính là đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp nhưng chưa nhận trợ cấp thất nghiệp.
- Quy tắc làm tròn thời gian: Trường hợp thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được làm tròn thành 1/2 năm làm việc; từ đủ 06 tháng trở lên được làm tròn thành 01 năm làm việc.
2. Trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc trong các trường hợp đặc biệt
Công văn đưa ra hướng dẫn cụ thể đối với các trường hợp chuyển đổi mô hình doanh nghiệp hoặc người lao động có thời gian làm việc ở khu vực nhà nước trước khi chuyển sang doanh nghiệp tư nhân:
- Đối với doanh nghiệp cổ phần hóa: Người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đối với cả thời gian làm việc ở doanh nghiệp nhà nước trước khi cổ phần hóa nếu thời gian đó chưa được chi trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm.
- Đối với người lao động chuyển công tác trong khu vực nhà nước: Trường hợp người lao động làm việc ở nhiều cơ quan, đơn vị nhà nước trước ngày 01 tháng 01 năm 2009 (thời điểm bắt đầu áp dụng bảo hiểm thất nghiệp) rồi chuyển sang doanh nghiệp khác, thì đơn vị sử dụng lao động cuối cùng có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho toàn bộ thời gian làm việc tại khu vực nhà nước trước đó của người lao động.
3. Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc
Căn cứ tiền lương để tính toán mức chi trả trợ cấp thôi việc được thực hiện theo quy định của pháp luật lao động hiện hành:
- Mức lương căn cứ: Là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.
- Thành phần tiền lương: Bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận ghi trong hợp đồng lao động.
4. Một số lưu ý quan trọng khi thực hiện chi trả
Để đảm bảo quyền lợi cho các bên và tránh phát sinh tranh chấp lao động, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội lưu ý:
- Người sử dụng lao động có nghĩa vụ phối hợp với cơ quan Bảo hiểm xã hội để xác nhận và chốt sổ bảo hiểm xã hội, làm cơ sở loại trừ chính xác thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp khi tính trợ cấp thôi việc.
- Thời hạn thanh toán các khoản trợ cấp thôi việc phải được thực hiện trong vòng 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động. Trong các trường hợp đặc biệt (như doanh nghiệp chấm dứt hoạt động, thay đổi cơ cấu công nghệ), thời hạn thanh toán có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày.
- Kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động được hạch toán trực tiếp vào chi phí quản lý hoặc chi phí sản xuất, kinh doanh của người sử dụng lao động trong kỳ tính thuế.
| BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1234/LĐTBXH-LĐTL | Hà Nội, ngày 11 tháng 04 năm 2008 |
Kính gửi: Sở Lao động Thương binh và Xã hội Thành phố Hà Nội.
Trả lời công văn số 186/LĐTBXH-CSLĐVL ngày 26/2/2008 của quý Sở về việc ghi ở trích yếu, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến sau:
1. Thời gian người lao động đi hợp tác lao động ở nước ngoài (như Liên Xô cũ, Tiệp Khắc cũ, Bungari …) không được tính là thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc. Bởi vì thời gian này, người lao động không có quan hệ lao động với bất kỳ đơn vị nào thuộc khu vực nhà nước.
- Người lao động trước đây có thời gian làm việc tại cơ quan hành chính sự nghiệp sau đó chuyển về doanh nghiệp trước thời điểm 1/1/1995; người lao động là bộ đội chuyển ngành về doanh nghiệp trước thời điểm 1/1/1995 thì thời gian đó được tính là thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc.
2. Thủ tục mà doanh nghiệp đề nghị ngân sách nhà nước hoàn trả chi phí trợ cấp thôi việc của người lao động (theo quy định tại điểm c khoản 3 mục III của Thông tư 21/TT-BLĐTBXH) là trách nhiệm hướng dẫn của Bộ Tài chính. Đề nghị quý Sở làm việc Sở Tài chính để hướng dẫn các doanh nghiệp trên địa bàn thực hiện./.
|
Nơi nhận: | TL. BỘ TRƯỞNG |
- 1 Thông tư 21/2005/TT-BLĐTBXH bổ sung Thông tư 11/2005/TT-BLĐTBXH về việc điều chỉnh lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội do Bộ Lao động thương binh và xã hội ban hành
- 2 Bộ luật Lao động 1994
- 3 Công văn số 1531/LĐTBXH-LĐTL về việc chi trả trợ cấp thôi việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành