Giới thiệu về Công văn số 1396/TCHQ-KTTT
Công văn số 1396/TCHQ-KTTT được ban hành ngày 03/04/2003 bởi Tổng cục Hải quan thuộc Bộ Tài chính. Đây là văn bản chỉ đạo hành chính quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc, khiếu nại phát sinh từ việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính trong lĩnh vực hải quan và quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu.
Thông tin tổng quan về văn bản:
- Tên văn bản: Công văn số 1396/TCHQ-KTTT về việc giải quyết khiếu nại cưỡng chế.
- Số hiệu: 1396/TCHQ-KTTT.
- Cơ quan ban hành: Tổng cục Hải quan - Bộ Tài chính.
- Ngày ban hành: 03/04/2003.
- Chủ đề quản lý: Giải quyết khiếu nại đối với các quyết định cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực hải quan.
Các nội dung trọng tâm về giải quyết khiếu nại cưỡng chế:
Dựa trên tính chất nghiệp vụ của Tổng cục Hải quan về việc xử lý khiếu nại liên quan đến các biện pháp cưỡng chế, văn bản tập trung vào các định hướng xử lý cốt lõi sau:
- Rà soát tính pháp lý của quyết định cưỡng chế: Yêu cầu các Cục Hải quan địa phương kiểm tra, đánh giá lại toàn bộ quy trình, thủ tục và căn cứ pháp lý khi ban hành quyết định cưỡng chế đối với đối tượng nợ thuế hoặc vi phạm pháp luật hải quan, đảm bảo tính chính xác và đúng thẩm quyền.
- Thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết khiếu nại: Xác định rõ trách nhiệm của từng cấp Hải quan (từ Chi cục đến Cục Hải quan tỉnh, thành phố) trong việc tiếp nhận, thụ lý và ra quyết định giải quyết khiếu nại của doanh nghiệp, tuân thủ nghiêm ngặt quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
- Xử lý tạm thời trong quá trình khiếu nại: Hướng dẫn việc xem xét tạm dừng hoặc tiếp tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế (như dừng thủ tục hải quan, phong tỏa tài khoản) trong thời gian chờ kết quả giải quyết khiếu nại, nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp nhưng không làm thất thu ngân sách nhà nước.
- Phối hợp liên ngành trong cưỡng chế: Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan Hải quan với các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại và các cơ quan chức năng liên quan để thực hiện việc phong tỏa tài khoản hoặc trích tài khoản nộp thuế đúng quy định pháp luật.
Ý nghĩa và tầm ảnh hưởng của văn bản:
Công văn số 1396/TCHQ-KTTT đóng vai trò là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ kịp thời, giúp tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong thực tế áp dụng biện pháp cưỡng chế hành chính thuế. Văn bản góp phần thống nhất phương án xử lý trong toàn ngành Hải quan, hạn chế tối đa các tranh chấp khiếu kiện kéo dài, đồng thời tạo môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1396/TCHQ-KTTT | Hà Nội, ngày 03 tháng 4 năm 2003 |
Kính gửi: Các Cục hải quan tỉnh, thành phố
Theo quy định hiện hành thì các doanh nghiệp không nộp thuế, nộp phạt theo quyết định xử lý về thuế thì Cơ quan hải quan không cho phép làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu cho các lô hàng tiếp theo cho đến khi đối tượng đó nộp đủ số tiền thuế, tiền phạt (quy định tại điểm 1d, mục I, phần B Thông tư số 172/1998/TT-BTC).
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, phát sinh nhiều trường hợp nợ thuế bị cưỡng chế do nguyên nhân khách quan như: Doanh nghiệp đã nộp hết nợ thuế, nợ phạt nhưng do chứng từ chuyển tiền luân chuyển chậm nên hải quan địa phương chưa đủ cơ sở xoá cưỡng chế trên mạng thông tin cưỡng chế; nợ thuế của các lô hàng được xét miễn thuế, không thu thuế; Nợ thuế do nguyên nhân khách quan đang chờ cấp có thẩm quyền xem xét giải quyết giãn nợ, khoanh nợ, xoá nợ, hàng đang bị giam giữ chờ xử lý...
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 3209/VPCP-KTTH ngày 19/7/1999 của Văn Phòng Chính Phủ và công văn số 4244TC/TCT ngày 26/8/1999 của Bộ Tài chính về việc chưa thực hiện cưỡng chế đối với hàng hoá nhập khẩu; Công văn số 652/CP-KTTH ngày 12/7/2000 của Chính phủ về việc áp dụng một số biện pháp cưỡng chế trong thi hành luật thuế xuất nhập khẩu, Tổng cục đã có công văn hướng dẫn số 5082 TCHQ/KTTT ngày 11/9/1999, số 3585/TCHQ-KTTT ngày 2/8/2000 để hải quan các tỉnh, thành phố thực hiện.
Đồng thời, để kịp thời tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh XNK, trong thời gian qua, Tổng Cục Hải quan có xem xét giải quyết tạm giải toả cưỡng chế cho một số những trường hợp nêu trên trong một thời gian nhất định để hải quan địa phương và doanh nghiệp đủ thời gian giải quyết nợ.
Tổng Cục Hải quan yêu cầu các Cục hải quan tỉnh thành phố trực tiếp xem xét tạm thời giả toả cưỡng chế trong các trường hợp cụ thể như sau:
1. Trường hợp doanh nghiệp có chứng từ gốc hoặc bản photocopy có xác nhận sao y bản chính do giám đốc ký chứng minh đã nộp đủ tiền thuế tiền phạt chậm nộp theo số liệu trên mạng cưỡng chế thì lãnh đạo Cục hải quan tỉnh, thành phố nơi doanh nghiệp xin mở tờ khai XNK kiểm tra xem xét ra văn bản tạm thời giải toả cưỡng chế, cho phép doanh nghiệp được làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá theo luật định. Đồng thời thông báo cho hải quan nơi quản lý theo dõi nợ thuế của doanh nghiệp được biết để kiểm tra đối chứng từ gốc, kịp thời xoá nợ trên mạng cưỡng chế. Nội dung này thay thế cho nội dung quy định tại điểm 2 công văn 2744/TCHQ-KTTT ngày 14/6/2000.
2. Trường hợp doanh nghiệp có công văn đề nghị tạm giải toả cưỡng chế nợ thuế, nợ phạt chậm nộp để được làm thủ tục XNK hàng hoá thì lãnh đạo Cục hải quan nơi quản lý theo dõi nợ thuế của doanh nghiệp kiểm tra tình hình nợ thuế, lý do nợ thuế đối chiếu với các văn bản quy định hiện hành để xem xét ra văn bản tạm giải toả cưỡng chế cho từng trường hợp cụ thể trong thời gian nhất định.
Văn bản tạm giải toả cưỡng chế của lãnh đạo Cục hải quan tỉnh, thành phố nơi quản lý nợ thuế là căn cứ để cục hải quan các tỉnh thành phố không thực hiện cưỡng chế, cho phép doanh nghiệp được mở tờ khai hàng hoá XNK theo quy định hiện hành.
Hiện tại, cơ sở để xem xét tạm thời không thực hiện cưỡng chế các doanh nghiệp nợ thuế theo quy định tại công văn số 3209/VPCP-KTTH ngày 19/7/1999; công văn số 652/CP-KTTH ngày 12/7/2000, văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính số 4244 TC/TCT ngày 26/8/1999, công văn hướng dẫn Tổng Cục Hải quan số 5082TCHQ/KTTT ngày 11/9/1999, số 3585/TCHQ-KTTT ngày 2/8/2000; Quyết định 172/2001/QĐ-TTg ngày 5/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ.
Trường hợp đề nghị doanh nghiệp vượt thẩm quyền, Cục trưởng Cục hải quan có ý kiến bằng văn bản gửi về Tổng Cục Hải quan để trình lãnh đạo Bộ xem xét giải quyết.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, Tổng cục yêu cầu các đồng chí cục trưởng triển khai thực hiện nghiêm túc theo đúng thẩm quyền quy định, không đùn đầy công việc về Tổng cục, không gây khó khăn phiền hà cho doanh nghiệp. Đồng chí Cục trưởng chịu trách nhiệm về triển khai thực hiện và kết quả giải quyết xử lý theo thẩm quyền của đơn vị mình. Trong quá trình thực hiện có vướng mắc, cần phản ánh kịp thời về Tổng cục để có chỉ đạo hướng dẫn tiếp./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC HẢI QUAN |
- 1 Thông tư 172/1998/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 54/CP-1993, 94/1998/NĐ-CP thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi do Bộ Tài chính ban hành
- 2 Công văn 2744/TCHQ-KTTT của Tổng cục Hải quan về việc xác định thời điểm nộp thuế
- 3 Công văn số 3209/VPCP-KTTH về việc chưa thực hiện cưỡng chế đối với một số hàng hóa nhập khẩu do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 1 Thông tư 172/1998/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 54/CP-1993, 94/1998/NĐ-CP thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi do Bộ Tài chính ban hành
- 2 Công văn 2744/TCHQ-KTTT của Tổng cục Hải quan về việc xác định thời điểm nộp thuế
- 3 Công văn số 3209/VPCP-KTTH về việc chưa thực hiện cưỡng chế đối với một số hàng hóa nhập khẩu do Văn phòng Chính phủ ban hành