Công văn số 2911/TCHQ-GSQL do Tổng cục Hải quan ban hành nhằm hướng dẫn chi tiết về thủ tục hải quan đối với mặt hàng gỗ xuất khẩu có nguồn gốc từ nhập khẩu. Văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc tháo gỡ các vướng mắc của doanh nghiệp và cơ quan hải quan địa phương, đồng thời đảm bảo tính hợp pháp của nguồn gốc lâm sản xuất khẩu theo quy định của pháp luật Việt Nam và các cam kết quốc tế.
- Quy định về hồ sơ hải quan và Bảng kê lâm sản xuất khẩu
Đối với gỗ có nguồn gốc từ nhập khẩu khi xuất khẩu, doanh nghiệp phải thực hiện khai báo đầy đủ và nộp các chứng từ chứng minh nguồn gốc hợp pháp. Cụ thể bao gồm:
- Bảng kê lâm sản: Doanh nghiệp phải lập Bảng kê lâm sản theo đúng mẫu quy định tại Thông tư số 26/2022/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Bảng kê này là chứng từ bắt buộc trong bộ hồ sơ hải quan xuất khẩu.
- Xác nhận của cơ quan Kiểm lâm: Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể và mức độ rủi ro của lô hàng, Bảng kê lâm sản phải được cơ quan Kiểm lâm sở tại xác nhận hoặc do doanh nghiệp tự lập và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về quản lý lâm sản.
- Hồ sơ nguồn gốc lâm sản: Doanh nghiệp cần lưu trữ và xuất trình khi có yêu cầu các chứng từ gốc như tờ khai hải quan nhập khẩu gỗ, hóa đơn thương mại, và các chứng từ mua bán nội địa liên quan (nếu mua lại từ các đơn vị nhập khẩu trong nước).
- Công tác kiểm tra và xác minh nguồn gốc gỗ
Tổng cục Hải quan hướng dẫn các Chi cục Hải quan địa phương thực hiện kiểm tra chặt chẽ nguồn gốc của các lô hàng gỗ xuất khẩu nhằm ngăn chặn tình trạng gian lận xuất xứ:
- Đối chiếu thông tin: Công chức hải quan thực hiện đối chiếu thông tin trên Bảng kê lâm sản với tờ khai hải quan nhập khẩu ban đầu. Đảm bảo sự trùng khớp về chủng loại gỗ, số lượng, khối lượng và quy cách sản phẩm.
- Truy xuất nguồn gốc chuỗi cung ứng: Đối với trường hợp doanh nghiệp xuất khẩu không trực tiếp nhập khẩu mà mua lại từ thị trường nội địa, cơ quan hải quan sẽ yêu cầu xuất trình hóa đơn giá trị gia tăng và bảng kê lâm sản của các khâu trung gian để chứng minh chuỗi cung ứng hợp pháp.
- Xử lý nghi vấn: Trong trường hợp có nghi ngờ về tính hợp pháp của nguồn gốc gỗ hoặc có dấu hiệu giả mạo hồ sơ, cơ quan hải quan sẽ tiến hành dừng thông quan để thực hiện xác minh trực tiếp hoặc phối hợp với cơ quan Kiểm lâm vùng để làm rõ.
- Cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan Hải quan và Kiểm lâm
Để nâng cao hiệu quả quản lý và tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu lành mạnh, văn bản nhấn mạnh sự phối hợp chặt chẽ giữa hai lực lượng:
- Trao đổi thông tin: Cơ quan Hải quan và cơ quan Kiểm lâm chủ động chia sẻ thông tin về các doanh nghiệp có rủi ro cao, các hành vi vi phạm phổ biến trong lĩnh vực xuất nhập khẩu lâm sản.
- Hỗ trợ giám định: Khi gặp khó khăn trong việc xác định chủng loại gỗ (đặc biệt là các loài gỗ thuộc danh mục CITES hoặc gỗ quý hiếm), cơ quan Hải quan sẽ trưng cầu giám định từ cơ quan Kiểm lâm hoặc các tổ chức giám định chuyên ngành để có kết luận chính xác.
- Thống nhất quy trình xử lý: Đảm bảo việc kiểm tra thực tế hàng hóa được thực hiện nhanh chóng, tránh chồng chéo, gây phiền hà cho doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát chặt chẽ tính pháp lý của lô hàng.
- Trách nhiệm và nghĩa vụ của doanh nghiệp xuất khẩu gỗ
Văn bản cũng nêu rõ trách nhiệm pháp lý của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động xuất khẩu gỗ:
- Tính trung thực trong khai báo: Doanh nghiệp phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của các thông tin khai báo trên tờ khai hải quan và các chứng từ kèm theo, đặc biệt là nguồn gốc lâm sản.
- Tuân thủ quy định VNTLAS: Thực hiện nghiêm túc các quy định về Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam (VNTLAS) theo Nghị định số 102/2020/NĐ-CP, đảm bảo toàn bộ chuỗi cung ứng gỗ xuất khẩu đều có nguồn gốc hợp pháp, không vi phạm các quy định về bảo vệ rừng.
- Lưu trữ hồ sơ: Doanh nghiệp có nghĩa vụ lưu trữ đầy đủ hồ sơ lâm sản, chứng từ kế toán, hóa đơn liên quan đến lô hàng xuất khẩu trong thời hạn quy định để phục vụ công tác kiểm tra sau thông quan của cơ quan chức năng.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2911/TCHQ-GSQL | Hà Nội, ngày 30 tháng 05 năm 2007 |
Kính gửi: Cục hải quan các tỉnh, thành phố
Trả lời vướng mắc về thủ tục xuất khẩu gỗ có nguồn gốc từ gỗ nhập khẩu theo phản ánh của một số đơn vị (Cục Hải quan Nghệ An tại công văn số 483/HQNA-NV ngày 25/05/2007; Cục Hải quan TP Đà Nẵng tại công văn số 527/HQĐNg-NV ngày 10/05/2007; Cục Hải quan Bình Dương tại công văn 853/HQBD-NV ngày 11/05/2007; Cục Hải quan Hà Nội tại công văn số 626/HQHN-NV ngày 08/05/2007), Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
1. Việc làm thủ tục hải quan xuất khẩu gỗ có nguồn gốc từ nhập khẩu thực hiện theo hướng dẫn tại công văn số 3338/TCHQ-GSQL ngày 26/07/2006 của Tổng cục Hải quan;
2. Riêng về thuế thực hiện theo công văn số 5226/BTC-TCHQ ngày 18/04/2007 của Bộ Tài chính.
Tổng cục Hải quan trả lời để Cục Hải quan các tỉnh, thành phố biết và thực hiện.
| Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1 Công văn số 3338/TCHQ–GSQL của Tổng cục Hải quan về xuất khẩu gỗ có nguồn gốc nhập khẩu
- 2 Công văn số 5226/BTC-TCHQXK của Tổng cục hải quan về thuế xuất khẩu sản phẩm gỗ có nguồn gốc nhập khẩu.
- 3 Công văn 330/TCHQ-GSQL năm 2014 về thủ tục hải quan đối với mặt hàng gỗ gửi kho ngoại quan do Tổng cục Hải quan ban hành