Công văn số 3042/LĐTBXH-LĐVL do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng liên quan đến việc chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động. Văn bản này tập trung làm rõ phương thức tính thời gian làm việc, xác định mức tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp và quy định trách nhiệm của người sử dụng lao động nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho các bên khi chấm dứt quan hệ lao động.
- Nguyên tắc xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc
Theo hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian đã được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trước đó. Các khoảng thời gian này được xác định cụ thể như sau:
- Thời gian làm việc thực tế của người lao động: Bao gồm thời gian trực tiếp làm việc; thời gian thử việc; thời gian được cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản; thời gian điều trị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp được hưởng lương; thời gian thực hiện nghĩa vụ công dân mà được người sử dụng lao động trả lương; thời gian ngừng việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ hằng năm và các ngày nghỉ khác được hưởng lương theo quy định.
- Thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp: Gồm thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp; thời gian được tính là đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật; thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật lao động.
- Thời gian đã được chi trả trợ cấp: Bất kỳ khoảng thời gian làm việc nào mà người lao động đã nhận trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm từ người sử dụng lao động trước đó sẽ bị loại trừ hoàn toàn, không tính gộp vào thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc cho lần chấm dứt hợp đồng này.
- Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc
Việc xác định mức tiền lương để tính toán khoản trợ cấp thôi việc được thực hiện chặt chẽ theo quy định của pháp luật lao động hiện hành:
- Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.
- Đối với trường hợp người lao động làm việc cho người sử dụng lao động theo nhiều hợp đồng lao động kế tiếp nhau, tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề trước khi chấm dứt hợp đồng lao động cuối cùng.
- Trường hợp hợp đồng lao động cuối cùng bị tuyên bố vô hiệu thì tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc do các bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng hoặc mức lương theo thang lương, bảng lương do hai bên đã thống nhất.
- Trách nhiệm và nghĩa vụ chi trả của người sử dụng lao động
Công văn nhấn mạnh trách nhiệm pháp lý bắt buộc của người sử dụng lao động trong việc hoàn thành nghĩa vụ tài chính đối với người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động:
- Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên khi chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp theo quy định của Bộ luật Lao động.
- Mức trợ cấp thôi việc được xác định theo nguyên tắc: Mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa (1/2) tháng tiền lương.
- Thời hạn thanh toán: Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền liên quan đến quyền lợi của mỗi bên. Trong một số trường hợp đặc biệt (như thiên tai, hỏa hoạn, doanh nghiệp thay đổi cơ cấu), thời hạn này có thể kéo dài nhưng không quá 30 ngày.
- Giải quyết các trường hợp đặc thù khi sáp nhập, chia tách doanh nghiệp
Đối với các trường hợp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc chuyển giao quyền sở hữu, nghĩa vụ chi trả trợ cấp thôi việc được quy định rõ ràng nhằm tránh tranh chấp:
- Khi người sử dụng lao động kế thừa nghĩa vụ từ doanh nghiệp cũ (do chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản), thời gian làm việc của người lao động tại doanh nghiệp cũ phải được cộng dồn để tính trợ cấp thôi việc khi chấm dứt hợp đồng lao động tại doanh nghiệp mới.
- Người sử dụng lao động mới có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho toàn bộ thời gian người lao động làm việc tại cả doanh nghiệp cũ và doanh nghiệp mới, trừ các khoảng thời gian đã được doanh nghiệp cũ chi trả trước khi chuyển giao.
| BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3042/LĐTBXH-LĐVL V/v Chi trả trợ cấp thôi việc | Hà Nội, ngày 27 tháng 08 năm 2007 |
Kính gửi: Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Lạng Sơn
Trả lời Công văn số 626/LĐTBXH-CSLĐTC ngày 25/7/2007 của quý Sở về việc ghi ở trích yếu, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:
- Việc tính trợ cấp thôi việc cho người lao động vào thời điểm năm 1997 được căn cứ theo quy định tại Điều 10 của Nghị định 198/CP ngày 31/12/1994 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về hợp đồng lao động.
- Trợ cấp thôi việc của người lao động có thời gian làm việc tại Công ty kinh doanh lâm sản xuất khẩu đến nay vẫn chưa được nhận (kể từ khi công ty bị giải thể: năm 1997) hoàn toàn không phải do lỗi của họ mà do trách nhiệm của các cơ quan chức năng thực hiện chưa tốt. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của người lao động, đề nghị quý Sở cùng với các ban ngành chức năng trao đổi trực tiếp với người lao động để thống nhất mức bồi thường cho thời gian chậm trả trợ cấp thôi việc.
Trên đây là ý kiến của Bộ lao động – Thương binh và Xã hội, đề nghị quý Sở nghiên cứu để giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc cho người lao động./.
|
Nơi nhận: | TL. BỘ TRƯỞNG |