Giới thiệu về Công văn số 4609/TCT-DNNN
Công văn số 4609/TCT-DNNN do Tổng cục Thuế ban hành nhằm hướng dẫn chi tiết về chính sách thuế Giá trị gia tăng (GTGT) đối với các khoản thu nhập phát sinh từ bản quyền nhãn hiệu hàng hóa. Đây là văn bản pháp lý quan trọng giúp các doanh nghiệp, tổ chức xác định rõ nghĩa vụ thuế của mình khi thực hiện các giao dịch liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ và quyền sử dụng nhãn hiệu tại thị trường Việt Nam.
Phân biệt đối tượng chịu thuế GTGT đối với nhãn hiệu hàng hóa
Căn cứ theo các quy định pháp luật về thuế GTGT hiện hành, Công văn đưa ra sự phân biệt rõ ràng giữa hai hình thức giao dịch liên quan đến nhãn hiệu hàng hóa để áp dụng chính sách thuế phù hợp:
- Chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ: Hoạt động chuyển nhượng hoàn toàn quyền sở hữu đối với nhãn hiệu hàng hóa theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
- Chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu (Bản quyền nhãn hiệu): Hoạt động cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng nhãn hiệu hàng hóa trong một thời gian nhất định (li-xăng nhãn hiệu) để nhận khoản tiền bản quyền (royalty) thuộc đối tượng chịu thuế GTGT.
Quy định về thuế suất và phương pháp tính thuế GTGT
Đối với khoản thu nhập từ bản quyền nhãn hiệu hàng hóa thuộc diện chịu thuế, các doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ thuế theo các nguyên tắc sau:
- Thuế suất áp dụng: Áp dụng mức thuế suất thuế GTGT là 10% đối với hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hóa.
- Giá tính thuế GTGT: Là toàn bộ khoản tiền dịch vụ nhận được từ việc chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu, chưa bao gồm thuế GTGT.
- Nghĩa vụ hóa đơn: Khi phát sinh hoạt động thu tiền bản quyền nhãn hiệu, doanh nghiệp có nghĩa vụ lập hóa đơn GTGT và giao cho bên nhận quyền theo đúng quy định.
Lưu ý đối với giao dịch bản quyền có yếu tố nước ngoài
Trong trường hợp giao dịch bản quyền nhãn hiệu hàng hóa diễn ra giữa doanh nghiệp Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài, cần lưu ý các quy định về Thuế nhà thầu nước ngoài:
- Nếu doanh nghiệp Việt Nam nhận quyền sử dụng nhãn hiệu từ tổ chức nước ngoài và thanh toán phí bản quyền, doanh nghiệp Việt Nam có trách nhiệm khấu trừ, kê khai và nộp thay thuế nhà thầu (bao gồm thuế GTGT và thuế Thu nhập doanh nghiệp) trước khi chuyển tiền ra nước ngoài.
- Hợp đồng bản quyền phải quy định rõ ràng về nghĩa vụ nộp thuế của các bên để làm cơ sở thực hiện kê khai thuế chính xác với cơ quan quản lý thuế trực tiếp.
| TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4609/TCT-DNNN | Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2005 |
Kính gửi Cục thuế thành phố Hà Nội
Trả lời Công văn số 21347 CT/HTr ngày 20/10/2005 của Cục thuế thành phố Hà Nội về việc thuế GTGT đối với khoản thu nhập bản quyền nhãn hiệu hàng hóa, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ quy định tại điểm 24, Mục II, phần A Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 158/2003 NĐ-CP ngày 10/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT thì:
Khoản thu nhập đối với tiền bản quyền (chuyển giao công nghệ) thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Do đó, Công ty sản xuất kinh doanh đầu tư và dịch vụ Việt Hà khi nhận tiền bản quyền nhãn hiệu hàng hóa do Liên doanh Nhà máy bia Đông Nam Á chuyển trả thì viết hóa đơn GTGT, trên hóa đơn GTGT chỉ ghi dòng giá bán là giá không có thuế GTGT, dòng thuế suất, số thuế GTGT không ghi và gạch bỏ, hóa đơn ghi rõ là hàng hóa không chịu thuế GTGT.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục thuế thành phố Hà Nội biết và thực hiện./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1 Thông tư 120/2003/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 158/2003/NĐ-CP thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi do Bộ Tài chính ban hành
- 2 Công văn 631/TCT-CS năm 2014 về thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu do Tổng cục Thuế ban hành
- 3 Công văn 2900/TXNK-TGHQ năm 2018 về phí bản quyền nhãn hiệu do Cục Thuế xuất nhập khẩu ban hành