Công văn số 5285/TCHQ-KTTT do Tổng cục Hải quan ban hành nhằm hướng dẫn Cục Hải quan các tỉnh, thành phố thống nhất thực hiện việc xử lý thuế đối với mặt hàng thủy sản xuất khẩu nhưng bị đối tác nước ngoài trả lại và phải tái nhập khẩu vào Việt Nam. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng giúp tháo gỡ vướng mắc cho các doanh nghiệp ngành thủy sản khi gặp tình huống hàng hóa bị trả về.
Nguyên tắc xử lý thuế nhập khẩu đối với hàng thủy sản tái nhậpTheo quy định tại Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và Nghị định số 134/2016/NĐ-CP, Tổng cục Hải quan hướng dẫn cụ thể về việc áp dụng chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu phải tái nhập khẩu như sau:
- Trường hợp được miễn thuế nhập khẩu: Hàng hóa xuất khẩu đã nộp thuế xuất khẩu nhưng phải tái nhập khẩu được hoàn thuế xuất khẩu và không phải nộp thuế nhập khẩu nếu hàng hóa tái nhập để sửa chữa, tái chế sau đó tái xuất khẩu. Doanh nghiệp phải đăng ký tờ khai hải quan theo loại hình tái nhập phù hợp và tuân thủ thời hạn tái chế do cơ quan hải quan giám sát.
- Trường hợp không thu thuế nhập khẩu: Đối với hàng thủy sản tái nhập để tiêu thụ nội địa hoặc tiêu hủy (không tái xuất), doanh nghiệp phải kê khai nộp thuế nhập khẩu theo quy định đối với hàng hóa nhập khẩu thương mại thông thường, trừ các trường hợp được miễn thuế đặc biệt theo quy định pháp luật.
- Thủ tục hồ sơ: Doanh nghiệp cần cung cấp đầy đủ hồ sơ chứng minh hàng hóa tái nhập chính là hàng hóa đã xuất khẩu trước đó (bao gồm hợp đồng xuất khẩu, tờ khai xuất khẩu, văn bản thỏa thuận trả lại hàng của đối tác nước ngoài nêu rõ lý do trả hàng).
Về nghĩa vụ thuế GTGT đối với hàng thủy sản tái nhập, Tổng cục Hải quan hướng dẫn thực hiện theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng và các văn bản hướng dẫn thi hành:
- Kê khai nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu: Khi tái nhập khẩu hàng thủy sản bị trả lại, doanh nghiệp phải thực hiện kê khai và nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu theo mức thuế suất quy định đối với mặt hàng thủy sản tương ứng tại thời điểm tái nhập khẩu.
- Xử lý thuế GTGT đã nộp khâu xuất khẩu: Trường hợp doanh nghiệp đã thực hiện hoàn thuế GTGT hoặc khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với lô hàng xuất khẩu trước đó, khi tái nhập khẩu phải thực hiện điều chỉnh, kê khai lại với cơ quan thuế nội địa quản lý trực tiếp theo đúng quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Để đảm bảo việc quản lý thuế chặt chẽ, tránh thất thu ngân sách nhà nước đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, Công văn yêu cầu:
- Đối với cơ quan hải quan địa phương: Thực hiện kiểm tra chặt chẽ hồ sơ hải quan, đối chiếu thông tin trên tờ khai xuất khẩu ban đầu và tờ khai tái nhập khẩu. Giám sát nghiêm ngặt quá trình tái chế, tiêu hủy hoặc chuyển mục đích sử dụng của lô hàng thủy sản tái nhập.
- Đối với doanh nghiệp: Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của các chứng từ, hồ sơ xuất trình cho cơ quan hải quan. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính và báo cáo quyết toán tình hình sử dụng hàng hóa tái nhập đúng thời hạn quy định.
| TỔNG CỤC HẢI QUAN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 5285/TCHQ-KTTT | Hà Nội, ngày 13 tháng 12 năm 2005 |
Kính gửi : Cục hải quan tỉnh An Giang
Tổng cục Hải quan nhận được công văn số 0926/HQAG-NV ngày 8/11/2005 của Cục Hải quan tỉnh An Giang báo cáo về việc thực hiện công văn số 3498/TCHQ-KTTT ngày 31/8/2005, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
1- Xét thực tế các lô hàng thủy sản tái nhập do có nghi ngờ nhiễm hóa chất cấm của nước nhập khẩu, doanh nghiệp chủ động thu hồi, không có văn bản thỏa thuận trả lại hàng của phía nước ngoài, sau đó đã xử lý, tái chế và xuất khẩu cho doanh nghiệp khác, không còn hàng để trưng cầu giám định của cơ quan quản lý chuyên ngành về thủy sản theo hướng dẫn tại công văn số 3498/TCHQ-KTTT của Tổng cục Hải quan, nếu trên cơ sở khai báo, cam kết của doanh nghiệp và thực tế hàng hóa, cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu có đủ cơ sở để xác định hàng nhập khẩu trở lại phù hợp với hồ sơ lô hàng xuất khẩu ban đầu và hàng tái chế, đã thực tái xuất phù hợp với hồ sơ hàng tái nhập, thì Tổng cục Hải quan đồng ý với đề xuất của Cục Hải quan An Giang tại công văn trên.
2- Trường hợp vì các lý do khác lý do sản phẩm nghi ngờ nhiễm hóa chất cấm, doanh nghiệp chủ động thu hồi các lô hàng thủy sản đã xuất khẩu nên không thể cung cấp giấy từ chối nhận hàng của phía nước ngoài, doanh nghiệp có trách nhiệm chứng minh nguyên nhân dẫn đến việc phải thu hồi hàng đã xuất khẩu và có văn bản cam kết, trên cơ sở đó cơ quan Hải quan nơi làm thủ tục nhập khẩu kiểm tra thực tế hàng hóa và bộ hồ sơ lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu để xử lý từng trường hợp cụ thể.
3- Về chứng từ thanh toán không thể hiện đúng số tiền trên hợp đồng và hóa đơn: Nếu số tiền chênh lệch giảm là do hàng kém chất lượng hay do nguyên nhân khác mà hai bên mua, bán có thỏa thuận về việc giảm giá thì phải có văn bản thỏa thuận về việc giảm giá giữa hai bên. Các trường hợp khác doanh nghiệp phải chứng minh đã yêu cầu người mua thanh toán số tiền thiếu nhưng người mua vẫn không thanh toán số tiền còn lại thì chấp nhận chứng từ thanh toán do doanh nghiệp xuất trình.
Tổng cục Hải quan thông báo để Cục Hải quan An Giang biết và thực hiện./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |