Giới thiệu về Công văn số 709TCT/DNK
Công văn số 709TCT/DNK do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng dành cho các doanh nghiệp có hoạt động thu mua nông sản, lâm sản, thủy sản chưa qua chế biến trực tiếp từ người dân tự sản xuất, đánh bắt bán ra. Văn bản này tập trung giải quyết các vướng mắc về thủ tục chứng từ, hóa đơn và việc xác định chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với các giao dịch đặc thù không có hóa đơn xuất xứ.
Quy định về chứng từ mua hàng nông, lâm sản chưa qua chế biến
Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, do đặc thù người nông dân, ngư dân trực tiếp sản xuất và đánh bắt không phải là hộ kinh doanh chuyên nghiệp nên không có hóa đơn GTGT để xuất cho doanh nghiệp. Để hợp pháp hóa nguồn hàng mua vào, doanh nghiệp phải thực hiện các bước lập chứng từ nghiêm ngặt sau:
- Lập Bảng kê thu mua hàng hóa: Doanh nghiệp thu mua phải tự lập Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ mua vào không có hóa đơn (theo mẫu quy định của Bộ Tài chính áp dụng tại thời điểm phát sinh giao dịch). Bảng kê này là chứng từ gốc thay thế cho hóa đơn bán hàng.
- Thông tin bắt buộc trên Bảng kê: Trên bảng kê phải ghi nhận đầy đủ và chính xác các thông tin bao gồm: Họ và tên người bán; địa chỉ nơi cư trú của người bán; số Chứng minh nhân dân hoặc Căn cước công dân; tên mặt hàng nông, lâm, thủy sản thu mua; số lượng thực tế; đơn giá thỏa thuận và tổng giá trị thanh toán.
- Trách nhiệm của người đại diện pháp luật: Giám đốc doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền hợp pháp phải ký tên, đóng dấu và chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về tính xác thực, trung thực của các thông tin ghi trên Bảng kê thu mua.
Điều kiện để tính vào chi phí được trừ khi xác định thuế TNDN
Để giá trị hàng hóa thu mua theo Bảng kê được cơ quan thuế chấp nhận là chi phí hợp lý được trừ khi tính thuế TNDN, doanh nghiệp cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Đúng đối tượng người bán: Hàng hóa thu mua phải do chính người nông dân, ngư dân, diêm dân trực tiếp sản xuất, nuôi trồng, đánh bắt hoặc khai thác bán ra. Trường hợp doanh nghiệp mua lại từ các thương lái, hộ kinh doanh trung gian hoặc các tổ chức kinh tế khác thì bắt buộc phải có hóa đơn GTGT hoặc hóa đơn bán hàng theo quy định, không được phép sử dụng Bảng kê thu mua.
- Chứng từ thanh toán đi kèm: Doanh nghiệp phải có chứng từ chi tiền (phiếu chi) hợp lệ, có chữ ký xác nhận nhận tiền của người bán trùng khớp với thông tin trên Bảng kê. Đối với các giao dịch có giá trị lớn, doanh nghiệp cần tuân thủ các quy định về thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định pháp luật thuế từng thời kỳ để đảm bảo tính hợp lệ của chi phí.
- Hồ sơ chứng minh nguồn gốc đất đai, sản xuất: Trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế, doanh nghiệp cần chuẩn bị sẵn sàng các tài liệu chứng minh người bán có đất canh tác, có ao hồ nuôi trồng hoặc có phương tiện đánh bắt phù hợp với số lượng hàng hóa đã thu mua nhằm chứng minh giao dịch là có thật, tránh rủi ro bị áp đặt hành vi trốn thuế hoặc khống khống chi phí.
Chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT) liên quan
Về nghĩa vụ thuế GTGT đối với các mặt hàng nông, lâm, thủy sản chưa qua chế biến ở khâu thu mua trực tiếp:
- Đối tượng không chịu thuế GTGT: Sản phẩm nông sản, lâm sản, thủy sản chưa qua chế biến do các tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt và bán ra thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT. Do đó, người dân trực tiếp bán hàng không phải thực hiện nghĩa vụ thuế GTGT đối với các khoản thu nhập này.
- Khấu trừ thuế đầu vào của doanh nghiệp: Vì giao dịch mua vào không có hóa đơn GTGT (chỉ có Bảng kê thu mua), doanh nghiệp thu mua sẽ không có thuế GTGT đầu vào để kê khai khấu trừ. Tuy nhiên, toàn bộ giá trị mua hàng thực tế ghi trên Bảng kê sẽ được tính vào nguyên giá hàng mua vào và được hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất, giá vốn hàng bán của doanh nghiệp.
Ý nghĩa và lưu ý quan trọng đối với doanh nghiệp
Công văn số 709TCT/DNK mang lại giải pháp tháo gỡ khó khăn thực tế cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến, xuất khẩu nông, lâm, thủy sản. Tuy nhiên, Tổng cục Thuế cũng khuyến cáo các doanh nghiệp cần quản lý chặt chẽ quy trình lập bảng kê. Việc lập khống bảng kê, nâng khống giá trị mua hàng, hoặc sử dụng thông tin cá nhân giả mạo để hợp thức hóa hàng hóa trôi nổi không rõ nguồn gốc sẽ bị coi là hành vi trốn thuế, gian lận thuế và sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật quản lý thuế và pháp luật hình sự.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 709TCT/DNK | Hà Nội, ngày 14 tháng 03 năm 2005 |
| Kính gửi: | - Cục Thuế TP Hà Nội |
Trả lời Công văn số 31512/CT-HTr ngày 22/12/2004 của Cục Thuế TP Hà Nội về việc chứng từ mua hàng nông, lâm sản chưa qua chế biến. Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
- Theo quy định tại Điểm 1.3, Mục III, phần B Thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ Tài chính chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 79/2000/NĐ-CP ngày 29/12/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT thì căn cứ để xác định thuế đầu vào được khấu trừ đối với hàng hóa là nông, lâm, thủy sản chưa qua chế biến, đất, đá, cát sỏi, phê liệu mua của người bán không có hóa đơn được khấu trừ thuế đầu vào theo tỷ lệ (%) trên giá mua là bảng kê hàng hóa mua vào (theo mẫu số 04/GTGT).
- Tại Điểm 5.14, Mục IV, Phần B Thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 70/2000/NĐ-CP ngày 29/12/2000 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật thuế GTGT và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT, quy định: Cơ sở kinh doanh mua các mặt hàng nông sản, lâm sản, thủy sản chưa qua chế biến (hàng hóa không chịu thuế GTGT ở khâu sản xuất bán ra) của người bán không có hóa đơn, theo chế độ quy định phải lập bảng kê hàng hóa mua vào.
Căn cứ theo các quy định trên, Tổng cục Thuế đề nghị Cục Thuế TP Hà Nội giải quyết theo hướng sau:
- Trường hợp Ông Hưởng là hộ kinh doanh bán nông sản đã đến cơ quan Thuế địa phương nơi kinh doanh xin cấp hóa đơn và đã được cơ quan Thuế cấp hóa đơn lẻ, ông Hưởng đã giao hóa đơn cho Công ty TNHH thương mại Hà Mạnh thì Công ty được căn cứ hóa đơn lẻ để tính khấu trừ thuế GTGT đầu vào và tính vào chi phí.
- Trường hợp Cục Thuế kiểm tra Công ty thực tế có thu mua hàng nông sản chưa qua chế biến của người bán không có hóa đơn, Công ty đã lập bảng kê thu mua theo quy định, khi bán hàng Công ty thực hiện đầy đủ chế độ hóa đơn, chứng từ, áp dụng đúng thuế suất thuế GTGT đối với hàng hóa bán ra; hạch toán đúng doanh thu, chi phí đối với nông sản thu mua theo chứng từ thực tế thanh toán, phiếu thu mua, hàng hóa thu mua được nhập kho, xuất kho tính vào chi phí thì công ty được khấu trừ thuế GTGT đầu vào và tính vào chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN theo hướng dẫn tại Điểm 1 Công văn số 12401 TC/TCT ngày 29/10/2004 của Bộ Tài chính v/v khấu trừ, hoản thuế GTGT đối với mặt hàng nông, lâm, thủy sản; nếu hàng hóa thu mua không lập đúng, đủ chứng từ thu mua hoặc giữa chứng từ thu mua với bản kê, số liệu hạch toán chi phí không đúng thực tế thì không được khấu trừ thuế đối với giá trị hàng hóa thu mua này và áp dụng biện pháp ấn định thuế TNDN.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế TP Hà Nội biết và thực hiện./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
- 1 Công văn số 12401 TC/TCT về việc khấu trừ, hoàn thuế GTGT đối với mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản do Bộ Tài chính ban hành
- 2 Nghị định 70/2000/NĐ-CP về việc giữ bí mật, lưu trữ và cung cấp thông tin liên quan đến tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng
- 3 Nghị định 79/2000/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Thuế giá trị gia tăng
- 4 Thông tư 122/2000/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 79/2000/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng do Bộ tài chính ban hành
- 5 Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi 2003
- 6 Công văn 219/GSQL-GQ1 thực hiện Thông tư 201/2012/TT-BTC; 05/2012/TT-BCT do Cục Giám sát quản lý về hải quan ban hành