Giới thiệu chung về Công văn số 812/TCHQ-KTTT
Công văn số 812/TCHQ-KTTT của Tổng cục Hải quan là văn bản chỉ đạo nghiệp vụ quan trọng liên quan đến việc xem xét, giải quyết các kiến nghị của doanh nghiệp về việc xin giải tỏa cưỡng chế hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế và hải quan. Văn bản này hướng tới việc tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nhưng vẫn đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và hiệu quả thu hồi nợ đọng thuế cho ngân sách nhà nước.
Các nội dung chính sách và quy định cốt lõi
- Đối tượng và hoàn cảnh phát sinh: Áp dụng đối với các doanh nghiệp đang bị cơ quan hải quan áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế (chủ yếu là biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu) do nợ thuế quá hạn, nhưng doanh nghiệp có đơn giải trình và xin tạm dừng hoặc giải tỏa cưỡng chế để tiếp tục thực hiện các hợp đồng thương mại.
- Điều kiện xem xét giải tỏa cưỡng chế: Để được cơ quan hải quan chấp thuận giải tỏa cưỡng chế, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện pháp lý chặt chẽ theo quy định của Luật Quản lý thuế. Cụ thể, doanh nghiệp phải có thư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với số tiền thuế nợ, tiền chậm nộp đang bị cưỡng chế, hoặc có cam kết nộp dần tiền thuế nợ và được tổ chức tín dụng bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ này.
- Trách nhiệm kiểm tra và giám sát của cơ quan hải quan: Cục Hải quan các tỉnh, thành phố có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan để kiểm tra thực tế hồ sơ, đánh giá năng lực tài chính, lịch sử chấp hành pháp luật thuế của doanh nghiệp. Cơ quan hải quan phải đảm bảo việc giải tỏa cưỡng chế được thực hiện đúng đối tượng, đúng thẩm quyền và không để xảy ra tình trạng tẩu tán tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thuế.
- Quy trình phối hợp xử lý: Đối với các trường hợp phức tạp hoặc vượt thẩm quyền quyết định của Chi cục Hải quan cửa khẩu, hồ sơ phải được báo cáo kịp thời lên Cục Hải quan tỉnh, thành phố và Tổng cục Hải quan để xem xét, đưa ra hướng giải quyết thống nhất, tránh gây ách tắc hàng hóa tại cửa khẩu nhưng vẫn kiểm soát chặt chẽ rủi ro thất thu thuế.
Ý nghĩa thực tiễn của văn bản
Công văn số 812/TCHQ-KTTT thể hiện tinh thần đồng hành cùng doanh nghiệp của ngành Hải quan. Việc giải tỏa cưỡng chế kịp thời cho các doanh nghiệp có lý do chính đáng và có sự bảo lãnh tài chính hợp pháp giúp doanh nghiệp duy trì chuỗi cung ứng, bảo đảm việc làm cho người lao động, đồng thời tạo ra nguồn thu để doanh nghiệp có khả năng hoàn trả nợ thuế cho Nhà nước một cách bền vững.
| TỔNG CỤC HẢI QUAN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 812/TCHQ-KTTT | Hà Nội, ngày 01 tháng 03 năm 2006 |
| Kính gửi: | - Cục hải quan Tp. Hải Phòng |
Tổng cục Hải quan nhận được công văn số 06/LT-KHKD ngày 04/01/2005 của Công ty Lương thực TP. Hồ Chí Minh về việc xin giải tỏa cưỡng chế, Tổng cục Hải quan có ý kiến như sau:
Công ty có nhập khẩu lô hàng lúa mì Úc qua Chi cục Hải quan quản lý KCN-KCX Hải Phòng theo các tờ khai 232/NKD ngày 08/03/2004 và 250/NKD ngày 10/03/2004. Chi cục Hải quan quản lý KCN-KCX Hải Phòng áp lại mã mặt hàng lúa mì Úc nhập khẩu của Công ty từ mã 10019099 (theo khai báo của Công ty) với thuế suất nhập khẩu ưu đãi 5% và thuế suất thuế GTGT 5% sang mã 11042990 với thuế suất nhập khẩu ưu đãi 20% và thuế suất GTGT 10% dẫn đến việc Công ty bị truy thu số thuế là 384.156.894đ. Hiện Công ty đang bị cưỡng chế do nợ thuế truy thu của các lô hàng nói trên.
Căn cứ điểm b khoản 2 điều 63 Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục Hải quan, kiểm tra, giám sát Hải quan.
Trong khi chờ ý kiến kết luận xử lý dứt điểm về vấn đề này, để tránh ách tắc trong hoạt động xuất nhập khẩu, Tổng cục Hải quan đồng ý để Công ty Lương thực TP. HCM được làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa đến hết ngày 30/06/2006 với điều kiện:
- Công ty không có nợ Thuế quá hạn của các lô hàng khác.
- Công ty có cam kết bằng văn bản thực hiện Quyết định cuối cùng của Bộ Tài chính về việc xử lý đối với số nợ thuế truy thu nói trên.
Tổng cục Hải quan thông báo để Cục Hải quan TP. Hải Phòng và Công ty Lương thực TP. HCM được biết và thực hiện./.
|
Nơi nhận: | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1 Công văn số 4108 TCHQ/KTTT của Tổng cục Hải quan về việc xin giải tỏa cưỡng chế
- 2 Công văn số 4315/TCHQ-KTTT của Tổng cục Hải quan về việc xin giải tỏa cưỡng chế hoạt động xuất nhập khẩu do nợ truy thu xe máy
- 3 Công văn số 4330 TCHQ/KTTT của Tổng cục Hải quan về việc xin giải tỏa cưỡng chế
- 4 Nghị định 154/2005/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan