Công văn về việc thi hành Nghị định 176/CP (hiện chưa rõ số hiệu, cơ quan và ngày ban hành cụ thể) được ban hành nhằm mục đích hướng dẫn, đôn đốc và tổ chức triển khai thực hiện các quy định cốt lõi của Nghị định 176/CP vào thực tiễn quản lý nhà nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản hướng dẫn áp dụng đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân có liên quan trực tiếp đến việc thực thi các quy định được nêu tại Nghị định 176/CP trên phạm vi cả nước, bảo đảm sự thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật.
Nội dung hướng dẫn thi hành các điều khoản đầu (Từ Điều 1 đến Điều 4)
- Phần mở đầu và bối cảnh triển khai: Xác định rõ mục tiêu, yêu cầu của việc thi hành Nghị định 176/CP nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng liên quan thực hiện đúng quy định.
- Hướng dẫn thực hiện Điều 1: Quy định chi tiết về phạm vi điều chỉnh của văn bản, làm rõ các lĩnh vực, hoạt động cụ thể chịu sự tác động trực tiếp và điều chỉnh bởi Nghị định 176/CP.
- Hướng dẫn thực hiện Điều 2: Xác định rõ đối tượng áp dụng, bao gồm các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài có nghĩa vụ, quyền lợi hoặc trách nhiệm liên quan đến các nội dung quy định trong phạm vi điều chỉnh.
- Hướng dẫn thực hiện Điều 3: Giải thích các thuật ngữ pháp lý cốt lõi và nguyên tắc áp dụng để bảo đảm sự hiểu biết thống nhất, tránh việc hiểu sai lệch hoặc áp dụng tùy tiện giữa các địa phương và cơ quan thực thi pháp luật.
- Hướng dẫn thực hiện Điều 4: Quy định về thẩm quyền, phân cấp quản lý và trách nhiệm phối hợp của các cơ quan quản lý chuyên ngành trong việc tổ chức, giám sát, thanh tra và kiểm tra quá trình thực hiện các nội dung của Nghị định.
Hiệu lực thi hành
Hiệu lực thi hành của công văn được thực hiện theo quy định chung về văn bản hướng dẫn thi hành, bảo đảm tính đồng bộ với hiệu lực của Nghị định 176/CP và các văn bản pháp luật có liên quan khác.
| BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4879/LĐTBXH | Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 1994 |
CÔNG VĂN
CỦA BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI SỐ 4879/LĐTBXH NGÀY 11 THÁNG 11 NĂM 1994 VỀ VIỆC THI HÀNH NGHỊ ĐỊNH 176/CP
Kính gửi: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Ngày 20/10/1994, Chính phủ ban hành Nghị định số 176/CP về việc thi hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng".
Để giúp các địa phương thực hiện đúng Nghị định này, Bộ hướng dẫn và giải thích thêm một số nội dung dưới đây:
1. Liệt sỹ: là con, chồng hoặc bản thân bà mẹ là người đã được tặng Bằng Tổ quốc ghi công, có hồ sơ quản lý ở cơ quan Lao động - Thương binh và xã hội.
2. Người con liệt sỹ: Ngoài con đẻ, con nuôi (kể cả con ngoài giá thú) của bà mẹ được pháp luật thừa nhận. Nghĩa là những người con được Uỷ ban nhân dân xã, phường hoặc Toà án nhân dân huyện, quận công nhận theo Luật hôn nhân và gia đình.
3. Người chồng là liệt sĩ: là người có đăng ký kết hôn hoặc không có đăng ký kết hôn nhưng được hai bên gia đình và xã hội thừa nhận là chồng hợp pháp với bà mẹ, là vợ của liệt sĩ đó.
4. Người tái giá: có con là liệt sĩ vẫn là bà mẹ liệt sĩ.
5. Những bà mẹ được vận dụng Điều kiện hưởng sinh hoạt phí nuôi dưỡng theo hướng dẫn tại Chỉ thị số 09/TBXH ngày 01/9/1986 hoặc được xác nhận là người có công nuôi liệt sĩ thì khi xét "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" (nếu có) đều phải căn cứ tiêu chuẩn nói tại Điều 1 Nghị định số 176/CP.
- Những bà mẹ được truy tặng danh hiệu vinh dự "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" thì Bằng Huy chương và Khoản tiền một lần được trao cho người chồng. Nếu người chồng đó đã hy sinh, từ trần thì phần thưởng được trao cho người con nào thường xuyên có trách nhiệm thờ cúng bà mẹ.
- Trường hợp bà mẹ không còn chồng, con thì người thân gần gũi nhất chịu trách nhiệm thờ cúng, chăm sóc phần mộ bà mẹ đó được trao giữ phần thưởng này.
- Nếu bà mẹ được truy tặng mà không còn một ai là thân nhân gẫn gũi nữa thì Bằng, Huy chương "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" và Bằng Tổ quốc ghi công của chồng, con hoặc bản thân bà mẹ được đặt tại Trung tâm chính trị - văn hoá - xã hội của địa phương (trụ sở Uỷ ban, Nhà truyền thống, đền thờ liệt sĩ v.v....)
1. Thẩm quyền và thủ tục xác lập danh sách các bà mẹ:
Nghị định số 176 đã hướng dẫn; Bộ lưu ý một số Điểm dưới đây:
- Các bản khai kèm theo biên bản xác minh đề nghị của Uỷ ban nhân dân và đoàn thể ở xã, phường, huyện, quận lưu tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.
- Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận, huyện chịu trách nhiệm giúp Chủ tich Uỷ ban nhân dân hướng dẫn, rà soát việc lập danh sách ở xã, phường, đối chiếu danh sách liệt sĩ đang quản lý cùng các cơ quan liên quan thẩm tra xác minh, tổng hợp báo cáo gửi về tỉnh, thành phố.
Sở Lao động - Thương binh và Xã hội kiểm tra các danh sách cấp xã, phường, ý kiến của cấp huyện, quận và căn cứ hồ sơ liệt sĩ đang quản lý, biên bản và bản khai của cơ sở, có trách nhiệm kiểm tra, bổ sung hoàn chỉnh danh sách và phối hợp với Bộ chỉ huy quân sự và cơ quan thi đua khen thưởng của tỉnh, thành phố thống nhất số liệu, danh sách về từng bà mẹ.
Việc tổng hợp danh sách và làm thủ tục trình Thủ tướng Chính phủ theo sự phân công của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố.
2. Đối với các bà mẹ được truy tặng các Sở căn cứ hướng dẫn trên đây mà cụ thể hoá phù hợp với tình hình địa phương bảo đảm việc trao Bằng, Huy chương, kèm theo Khoản tiền một lần cho người thân của bà mẹ được chính xác, giữ gìn được sự đoàn kết nhất trí, vinh dự của gia đình, dòng họ được quần chúng ủng hộ, chính quyền cơ sở công nhận và do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định.
3. Những trường hợp còn đang có vướng mắc, dư luận chưa đồng tình sẽ tiến hành xem xét đề nghị vào đợt kỷ niệm 50 năm ngày thành lập nước (2/9/1995).
4. Bộ yêu cầu các Sở khẩn trương bổ sung hoàn tất danh sách đề nghị tặng hoặc truy tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" theo quy định tại Nghị định 176/CP, bảo đảm chính xác, chặt chẽ phối hợp với các cơ quan liên quan giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trình Thủ tướng Chính phủ trước ngày 25/11/1994.
Trong quá trình triển khai thực hiện nếu có gì vướng mắc, báo cáo về Bộ biết kịp thời xử lý.
|
| Nguyễn Đình Thiêm (Đã ký)
|