Công văn về việc thực hiện Thông tư liên ngành 06/TTLN ngày 20/9/1996 hướng dẫn xử lý tội trốn thuế được ban hành nhằm thống nhất nhận thức và phối hợp hành động giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc đấu tranh phòng, chống tội phạm về thuế.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản hướng dẫn áp dụng đối với các cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án nhân dân các cấp, cơ quan quản lý thuế và các tổ chức, cá nhân có liên quan đến quá trình xử lý hành vi trốn thuế.
Nội dung cốt lõi của văn bản
Nội dung hướng dẫn tập trung vào phần mở đầu và các điều khoản đầu tiên (từ Điều 1 đến Điều 4) của Thông tư liên ngành 06/TTLN, cụ thể bao gồm:
- Phần mở đầu: Nêu rõ bối cảnh, mục đích ban hành và nguyên tắc phối hợp giữa các cơ quan liên ngành trong việc phát hiện, xử lý tội trốn thuế nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và chống thất thu ngân sách nhà nước.
- Các điều khoản đầu (Điều 1 đến Điều 4): Tập trung làm rõ các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội trốn thuế, ranh giới giữa xử phạt hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự, cũng như thẩm quyền giải quyết của từng cơ quan trong giai đoạn đầu của quá trình tố tụng.
Hiệu lực thi hành
Văn bản có hiệu lực hướng dẫn thực hiện trực tiếp các quy định liên quan đến Thông tư liên ngành 06/TTLN ngày 20/9/1996 kể từ ngày ban hành.
| TỔNG CỤC HẢI QUAN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3810/TCHQ-PC | Hà Nội, ngày 26 tháng 11 năm 1996 |
Kính gửi: Cục trưởng Cục Hải quan Các tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương,
Để góp phần đấu tranh có hiệu quả chống các hành vi trốn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các loại thuế khác (sau đây gọi chung là trốn thuế) mà Nhà nước giao ngành Hải quan thực hiện, Tổng cục Hải quan hướng dẫn thực hiện Thông tư Liên ngành số 06/TTLN ngày 20-9-1996 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao và Bộ Nội vụ như sau:
1- Mọi cá nhân, tổ chức có hành vi trốn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các loại thuế khác mà Nhà nước giao cho ngành Hải quan thực hiện, căn cứ vào các điểm 2, 3, 4, 5, 6 Thông tư 06/TTLN để giải quyết.
2- Trường hợp biên bản vi phạm hành chính về hải quan và những tài liệu trong hồ sơ xuất khẩu, nhập khẩu có đủ căn cứ pháp lý để khẳng định đã thực hiện việc trốn thuế được quy định tại Điều 169 Bộ luật Hình sự thì chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra xử lý theo thẩm quyền. Thủ tục bàn giao hồ sơ được thực hiện theo quy định tại Điều 03 Quyết định số 241/TCHQ-PC ngày 10-8-1995 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ban hành bản quy định về tiếp nhận, bàn giao hồ sơ, tang vật các vụ vi phạm pháp luật hải quan. Đối với những hành vi phạm tội được quy định trong Điều 97 Bộ luật hình sự thì trình tự tố tụng vẫn được thực hiện theo quy định tại Điều 93 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 28 Pháp lệnh tổ chức Điều tra Hình sự ngày 4-4-1989.
3- Khi phát hiện hành vi liên quan đến tội trốn thuế được quy định tại Điều 169 và tội Buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá tiền tệ qua biên giới được quy định tại Điều 97 Bộ luật Hình sự. Cục trưởng Cục Hải quan các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu và Cục trưởng Cục Kiểm tra thu thuế xuất khẩu nhập khẩu có trách nhiệm xem xét một cách thận trọng, khách quan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình, đảm bảo không để lọt kẻ phạm tội hoặc gây khó dễ cho người có hành vi vi phạm nhưng chưa tới mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
|
| Phan Văn Dĩnh (Đã ký)
|
- 1 Bộ luật Hình sự 1985
- 2 Bộ luật tố tụng hình sự 1988
- 3 Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- 4 Thông tư liên ngành 06/TTLN năm 1996 hướng dẫn xử lý tội trốn thuế do Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Tòa án nhân dân tối cao - Bộ Nội vụ ban hành
- 5 Công văn 11241/TCHQ-PC năm 2015 về khai bổ sung để điều chỉnh mã HS quá thời hạn do Tổng cục Hải quan ban hành