Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Thuế thu nhập cá nhân khi bán nhà đất
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo 2025 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XV, Kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 27 tháng 6 năm 2025. Đây là văn bản pháp lý nền tảng, thay thế toàn bộ Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013, nhằm thiết lập hành lang pháp lý đồng bộ, vượt trội, giải phóng tối đa năng lực sáng tạo và đưa khoa học, công nghệ cùng đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội chủ yếu, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững đất nước.

Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng: Luật này quy định về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; chính sách, biện pháp bảo đảm phát triển khoa học, công nghệ và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Đối tượng áp dụng bao gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

- Nguyên tắc hoạt động và định hướng chiến lược phát triển

  • Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, lấy con người làm trung tâm, tôn trọng quyền con người và bảo đảm quyền tự do nghiên cứu, sáng tạo.
  • Nhà nước quản lý hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chủ yếu theo nguyên tắc hậu kiểm, tập trung đánh giá kết quả thực hiện, không can thiệp vào phương pháp, quy trình thực hiện; bảo đảm quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của các chủ thể.
  • Định hướng chiến lược tập trung gắn kết chặt chẽ hoạt động nghiên cứu với nhu cầu thị trường, xác định doanh nghiệp là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo; ưu tiên nguồn lực cho các công nghệ chiến lược, công nghệ có tiềm năng tạo đột phá, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn và thích ứng với biến đổi khí hậu.
  • Quy định ngày 18 tháng 5 hằng năm là Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam.

- Liêm chính khoa học và cơ chế chấp nhận rủi ro

  • Quy định rõ trách nhiệm tuân thủ liêm chính khoa học và đạo đức nghề nghiệp; nghiêm cấm các hành vi ngụy tạo dữ liệu, đạo văn, che giấu xung đột lợi ích hoặc làm sai lệch bản chất nghiên cứu.
  • Thiết lập cơ chế chấp nhận rủi ro mang tính đột phá: Tổ chức, cá nhân thực hiện nghiên cứu được loại trừ trách nhiệm hành chính, miễn trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại gây ra cho Nhà nước nếu đã tuân thủ đầy đủ quy trình, quy định và không có hành vi gian lận, cố ý vi phạm pháp luật, không sử dụng sai mục tiêu kinh phí.
  • Tổ chức thực hiện nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước hoặc kinh phí của doanh nghiệp nhà nước không phải hoàn trả kinh phí đã sử dụng đúng mục tiêu nếu đã tuân thủ đúng quy trình nhưng kết quả không đạt mục tiêu đề ra. Người phê duyệt và quản lý nhiệm vụ cũng được miễn trách nhiệm tương tự nếu thực hiện đúng chức trách.
  • Loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự đối với các rủi ro phát sinh trong nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ.

- Thử nghiệm có kiểm soát (Sandbox) đối với công nghệ và mô hình mới

  • Cho phép thử nghiệm có kiểm soát đối với công nghệ, quy trình, giải pháp, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới mà pháp luật chưa có quy định hoặc khác với quy định hiện hành, giới hạn về phạm vi, thời gian (không quá 03 năm, gia hạn 1 lần không quá 03 năm) và không gian thực tế.
  • Quy định cơ chế miễn, loại trừ trách nhiệm dân sự (đối với thiệt hại gây ra cho Nhà nước), trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự cho cả cơ quan cấp phép, người thẩm định và tổ chức, cá nhân thực hiện thử nghiệm nếu đã tuân thủ đúng quy trình và thực hiện đầy đủ biện pháp phòng ngừa rủi ro.
  • Ràng buộc trách nhiệm bảo vệ người tham gia thử nghiệm: Tổ chức thử nghiệm phải khuyến cáo rủi ro, bảo mật dữ liệu cá nhân, định kỳ đánh giá rủi ro, công bố đầu mối giải quyết khiếu nại và thực hiện bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật dân sự (trừ trường hợp được miễn trừ).

- Xử lý tài sản và thương mại hóa kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách

  • Đối với tài sản trang bị từ ngân sách nhà nước: Nhà nước giao tự động quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu tài sản cho tổ chức chủ trì ngay sau khi trang bị; không phải thực hiện thủ tục giao quyền phức tạp, không phải bồi hoàn giá trị tài sản và không ghi tăng vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Tổ chức chủ trì được tự chủ xử lý tài sản khi hư hỏng, lạc hậu hoặc kết thúc nhiệm vụ.
  • Đối với kết quả nghiên cứu: Nhà nước tự động giao quyền quản lý, sử dụng, quyền sở hữu phần kết quả tương ứng với tỷ lệ kinh phí ngân sách nhà nước cho tổ chức chủ trì mà không phải bồi hoàn chi phí, trừ lĩnh vực quốc phòng, an ninh hoặc nhiệm vụ đặc biệt do Nhà nước đặt hàng nắm giữ quyền sở hữu để phục vụ lợi ích công cộng.
  • Tổ chức chủ trì được tự chủ, tự quyết định lựa chọn hình thức thương mại hóa (bán, cho thuê, góp vốn, liên doanh, liên kết...) và tự quyết định giá, phương án phân chia lợi nhuận.
  • Quy định tỷ lệ phân chia lợi nhuận từ thương mại hóa kết quả dùng ngân sách nhà nước: Tác giả được hưởng tối thiểu 30% lợi nhuận thu được (hoặc tối thiểu 30% giá trị kết quả khi góp vốn, liên doanh, thành lập doanh nghiệp). Phần còn lại được dùng để thưởng cho người hỗ trợ thương mại hóa và tái đầu tư cho hoạt động khoa học, công nghệ.

- Cơ chế đặc biệt trong giải mã công nghệ và mua bí quyết công nghệ

  • Khi thực hiện nhiệm vụ giải mã công nghệ chiến lược hoặc mua bí quyết công nghệ bằng ngân sách nhà nước, tổ chức chủ trì được áp dụng cơ chế đặc biệt: Chỉ định thuê chuyên gia trong và ngoài nước với mức lương thỏa thuận; mua trực tiếp công nghệ, thiết bị nước ngoài để giải mã với giá thỏa thuận; các sản phẩm, thiết bị sau giải mã được coi là vật tư tiêu hao và không tính vào tài sản của tổ chức.
  • Doanh nghiệp nhà nước được áp dụng cơ chế đặc biệt này đối với các dự án trọng điểm, dự án phát triển công nghệ chiến lược, bao gồm cả việc mua lại doanh nghiệp, phòng thí nghiệm hoặc sáp nhập doanh nghiệp nước ngoài để sở hữu bí quyết công nghệ.

- Thúc đẩy hệ thống đổi mới sáng tạo lấy doanh nghiệp làm trung tâm

  • Nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp thông qua tài trợ kinh phí đổi mới công nghệ, khởi nghiệp sáng tạo, tiếp nhận và làm chủ công nghệ chuyển giao từ nước ngoài; áp dụng chính sách ưu đãi về thuế, đất đai, đấu thầu và tín dụng.
  • Doanh nghiệp được tính các khoản chi cho nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp theo tỷ lệ ưu đãi.
  • Khuyến khích thành lập doanh nghiệp khoa học và công nghệ, các trung tâm nghiên cứu và phát triển, trung tâm đổi mới sáng tạo và hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo với các ưu đãi về thuê đất, cơ sở hạ tầng và sử dụng phòng thí nghiệm dùng chung.
  • Thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm quốc gia và địa phương hoạt động theo nguyên tắc thị trường, chấp nhận rủi ro có kiểm soát, không áp dụng yêu cầu bảo toàn vốn hằng năm hoặc theo từng dự án cụ thể. Người quản lý quỹ được miễn trách nhiệm dân sự và hành chính nếu tổn thất do rủi ro khách quan và đã tuân thủ đúng quy trình.
  • Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán chuyên biệt (phân bảng chuyên biệt) dành riêng cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo để thu hút nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước.

- Phát triển nguồn nhân lực và chức danh Tổng công trình sư

  • Quy định cụ thể về chức danh khoa học, chức danh công nghệ; cho phép bổ nhiệm vượt cấp không phụ thuộc vào năm công tác đối với người có học vị tiến sĩ hoặc có công trình xuất sắc, giải thưởng cao.
  • Thiết lập chức danh Tổng công trình sư đối với các chương trình, nhiệm vụ đặc biệt, quy mô lớn hoặc phát triển công nghệ chiến lược. Tổng công trình sư có quyền quyết định tối cao về kiến trúc tổng thể, lộ trình công nghệ, giải quyết vướng mắc kỹ thuật phức tạp; được chủ động điều động nhân sự, quyết định sử dụng kinh phí (bao gồm mua trực tiếp công nghệ, bí quyết nước ngoài); được hưởng lương, phụ cấp đặc biệt theo thỏa thuận, bố trí nhà ở công vụ và phương tiện đi lại.
  • Chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài: Ưu tiên giao trực tiếp nhiệm vụ khoa học công nghệ; đãi ngộ đặc biệt về tài chính, điều kiện làm việc, nhà ở, an sinh xã hội cho gia đình; hỗ trợ tối đa cho nhà khoa học trẻ tài năng, nghiên cứu sinh và chuyên gia nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài về làm việc tại Việt Nam.
  • Cho phép viên chức, viên chức quản lý tại tổ chức khoa học và công nghệ công lập được góp vốn, tham gia quản lý, điều hành hoặc làm việc tại doanh nghiệp do tổ chức thành lập để thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

- Tài chính, ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

  • Nhà nước bảo đảm chi hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (nằm trong tổng chi tối thiểu 3% ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số).
  • Đổi mới phương thức lập dự toán, phân bổ và quyết toán: Áp dụng cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng hoặc khoán chi từng phần. Kinh phí thực hiện nhiệm vụ được quyết toán sau khi hoàn thành hợp đồng, không phụ thuộc vào năm tài chính.
  • Quy định rõ địa vị pháp lý và cơ chế hoạt động của Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia, Quỹ đổi mới công nghệ quốc gia, các quỹ của Bộ, ngành, địa phương và quỹ của doanh nghiệp (doanh nghiệp được trích lập quỹ từ thu nhập tính thuế và được dùng tối đa 5% thu nhập tính thuế hằng năm để đầu tư vào khởi nghiệp sáng tạo).
  • Ưu đãi trong mua sắm công sử dụng ngân sách nhà nước đối với các sản phẩm công nghệ cao, sản phẩm từ kết quả nghiên cứu khoa học trong nước; Nhà nước xem xét tài trợ chi phí thử nghiệm, kiểm định chất lượng cho các sản phẩm này khi tham gia đấu thầu.

- Sửa đổi, bổ sung các luật liên quan để bảo đảm tính đồng bộ

  • Luật Công nghệ cao: Bổ sung khái niệm và danh mục "Công nghệ chiến lược" và "Sản phẩm công nghệ chiến lược" do Thủ tướng Chính phủ ban hành; dành tỷ lệ ngân sách riêng cho hoạt động này.
  • Luật Chuyển giao công nghệ: Bổ sung quy định thẩm định công nghệ trong trường hợp đặc thù và bắt buộc cam kết chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực trong các gói thầu dự án quan trọng quốc gia có nhà thầu nước ngoài.
  • Luật Thuế thu nhập cá nhân: Miễn thuế thu nhập cá nhân đối với tiền lương, tiền công thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ; thu nhập từ quyền tác giả khi thương mại hóa kết quả nghiên cứu; thu nhập của nhà đầu tư cá nhân, chuyên gia, sáng lập viên làm việc cho dự án khởi nghiệp sáng tạo hoặc góp vốn vào quỹ đầu tư mạo hiểm.
  • Luật Đất đai: Miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với đất xây dựng phòng thí nghiệm, cơ sở ươm tạo công nghệ, cơ sở thực nghiệm, sản xuất thử nghiệm, hạ tầng dùng chung của các tổ chức khoa học công nghệ và trung tâm đổi mới sáng tạo.
  • Luật Báo chí: Cho phép cơ sở giáo dục đại học, tổ chức nghiên cứu khoa học, bệnh viện cấp tỉnh trở lên được thành lập cơ quan tạp chí khoa học và được xuất bản nhiều tạp chí khoa học; nới lỏng tiêu chuẩn thẻ nhà báo đối với người đứng đầu cơ quan tạp chí khoa học.
  • Luật Xây dựng: Miễn thẩm định thiết kế xây dựng đối với công trình có giải pháp thiết kế, công nghệ là kết quả nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo đã được phê duyệt, bảo đảm không thay đổi công năng và mục tiêu đầu tư.
  • Luật Sở hữu trí tuệ: Sửa đổi nghĩa vụ trả thù lao cho tác giả sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí (10% lợi nhuận trước thuế nếu tự sử dụng, 15% tiền nhận được nếu chuyển giao quyền sử dụng). Bãi bỏ một số điều khoản cũ để đồng bộ với cơ chế giao quyền tự động của Luật này.
  • Luật Nhà ở: Bổ sung Tổng công trình sư và nhân tài có đóng góp quan trọng cho quốc gia vào đối tượng được ưu tiên bố trí nhà ở công vụ.

Hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp:

  • Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2025.
  • Riêng các điều khoản liên quan đến tài chính, ngân sách và các quỹ phát triển (bao gồm các điều 15, 61, 62, 63, 64, 65 và 66) có hiệu lực thi hành sớm hơn, từ ngày 01 tháng 7 năm 2025.
  • Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành, trừ một số trường hợp chuyển tiếp cụ thể.
  • Các đề xuất nhiệm vụ, hồ sơ đăng ký gửi trước ngày 01 tháng 10 năm 2025 chưa được phê duyệt thì tiếp tục thực hiện theo Luật năm 2013. Các nhiệm vụ đã phê duyệt trước ngày này tiếp tục thực hiện theo quy định tại thời điểm phê duyệt, nhưng việc xử lý tài sản trang bị và kết quả nghiên cứu chưa có quyết định xử lý thì được áp dụng theo quy định mới của Luật này.
  • Quy định về phân chia lợi nhuận thương mại hóa tại Điều 28 được áp dụng cho cả các lợi nhuận chưa phân chia từ kết quả nghiên cứu của các nhiệm vụ giao từ ngày 01 tháng 01 năm 2023 đến trước ngày 01 tháng 10 năm 2025 đã được cấp văn bằng bảo hộ.
  • Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ đã cấp trước đây vẫn tiếp tục có hiệu lực; các văn phòng đại diện, chi nhánh của tổ chức nước ngoài được tiếp tục hoạt động đến khi hết hạn giấy phép.
infoNội dung văn bản này đang cập nhật

QUỐC HỘI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Luật số …/…/QH…

Hà Nội, ngày ... tháng ... năm 2023

DỰ THẢO
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT

 

LUẬT

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoa học và công nghệ số 29/2013/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2013 của Quốc hội, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 28/2018/QH14 ngày 15 tháng 6 năm 2018 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật có liên quan đến quy hoạch.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ

1. Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Sửa đổi, bổ sung Điều 1 như sau: bổ sung phạm vi điều chỉnh về “Đổi mới sáng tạo.

2. Điều 2. Đối tượng áp dụng

Sửa đổi, bổ sung Điều 2 như sau: bổ sung đối tượng điều chỉnh về Đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo”.

3. Điều 3 Giải thích từ ngữ

- Khoản 3, sửa đổi, bổ sung khái niệm “Nghiên cứu khoa học” theo hướng làm rõ hơn khái niệm này phù hợp với thông lệ quốc tế.

- Khoản 5, sửa đổi, bổ sung khái niệm “Nghiên cứu cơ bản” theo hướng làm rõ hơn khái niệm này phù hợp với thông lệ quốc tế.

- Khoản 6, sửa đổi, bổ sung khái niệm “Nghiên cứu ứng dụng” theo hướng làm rõ hơn mục tiêu của nghiên cứu ứng dụng là thu được tri thức mới có tính cụ thể và thiết thực.

- Chuyển khoản 7 “Phát triển công nghệ” xuống khoản 8.

- Chuyển khoản 8 “Triển khai thực nghiệm” lên vị trí khoản 7 để liền mạch các khái niệm về hoạt động khoa học và công nghệ; sửa đổi, bổ sung nội dung để làm rõ nội dung khái niệm phù hợp với thông lệ quốc tế.

- Tại  khoản 11 sửa thuật ngữ “tổ chức khoa học và công nghệ”, làm rõ hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ của tổ chức khoa học và công nghệ theo Danh mục các lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ và Danh mục dịch vụ khoa học và công nghệ.

- Bổ sung khoản 12a sau khoản 12 quy định khái niệm “Nhân lực khoa học và công nghệ” bao “gồm các cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ và những người thực hiện công việc quản lý, hỗ trợ, phục vụ hoạt động khoa học và công nghệ”.

- Bổ sung khoản 12b quy định khái niệm “Nhà khoa học” và “Nhà khoa học đầu ngành”.

- Tại khoản 13 sửa đổi khái niệm “Nhiệm vụ khoa học và công nghệ” thành “nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo”.

- Sửa đổi, bổ sung khoản 16 “Đổi mới sáng tạo” phù hợp với thông lệ quốc tế.

- Bổ sung khoản 17 quy định khái niệm “Hoạt động đổi mới sáng tạo”.

- Bổ sung khoản 18 quy định khái niệm “Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia”.

- Bổ sung khoản 19 quy định khái niệm “Hệ thống đổi mới sáng tạo vùng”.

- Bổ sung khoản 20 quy định khái niệm “Hệ thống đổi mới sáng tạo doanh nghiệp”.

- Bổ sung khoản 21 quy định khái niệm “Doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo”.

- Bổ sung khoản 22 quy định khái niệm “Ươm tạo doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo”.

4. Điều 4. Nhiệm vụ của hoạt động khoa học và công nghệ

Sửa đổi, bổ sung tên Điều 4 và nội dung Điều 4 quy định về “Đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo”.

5. Điều 5. Nguyên tắc hoạt động khoa học và công nghệ

- Sửa đổi, bổ sung tên Điều 5, bổ sung cụm từ “Đổi mới sáng tạo”.

- Khoản 4 bổ sung nội dung “tuân thủ chuẩn mực liêm chính khoa học”.

- Bổ sung khoản 6 quy định Nhà nước tạo điều kiện giảm trừ/miễn trừ trách nhiệm bồi hoàn kinh phí từ ngân sách nhà nước đối với hoạt động nghiên cứu gặp rủi ro” nhằm cụ thể hóa nội dung tôn trọng đặc thù của lao động sáng tạo, chấp nhận rủi ro, độ trễ trong nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Nghị quyết số 100/2023/NQ-QH15 ngày 24/6/2023 của Quốc hội về hoạt động chất vấn kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XV.

6. Điều 6. Chính sách của Nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ

- Sửa đổi, bổ sung tên Điều 6 và nội dung Điều 6, bổ sung quy định về “Đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo”.

- Khoản 3 bổ sung vào cuối khoản nội dung Hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo; hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo”.

- Bổ sung khoản 9 quy định về đặc thù của hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là tính rủi ro, độ trễ.

7. Điều 9. Hình thức và phân loại tổ chức khoa học và công nghệ

- Khoản 1: bổ sung loại hình tổ chức về đổi mới sáng tạo.

- Khoản 2: Sửa đổi, bổ sung theo hướng tiêu chí phân loại tổ chức khoa học và công nghệ công lập có thể căn cứ vào hai tiêu chí phân loại: (1) theo chức năng, nhiệm vụ (gồm tổ chức khoa học và công nghệ công lập phục vụ quản lý nhà nước; tổ chức khoa học và công nghệ công lập cung cấp dịch vụ sự nghiệp công cơ bản thiết yếu; tổ chức khoa học và công nghệ công lập phục vụ công ích của nhà nước); và (2) theo mức độ tự chủ về tài chính (tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm chi thường xuyên; tổ chức khoa học và công nghệ công lập tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; tổ chức khoa học và công nghệ công lập do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên).

8. Điều 11. Điều kiện thành lập, đăng ký hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ công lập

- Sửa đổi, bổ sung khoản 1 theo hướng bổ sung điều kiện thành lập tổ chức khoa học và công nghệ, cụ thể:

1. Tổ chức khoa học và công nghệ được thành lập khi có đủ điều kiện sau đây:

a) Mục tiêu, phương hướng hoạt động phù hợp với quy định của pháp luật;

b) Có điều lệ tổ chức và hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức khoa học và công nghệ quy định trong điều lệ thuộc Danh mục các lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ và Danh mục dịch vụ khoa học và công nghệ đã được ban hành và phải phù hợp với ngành, lĩnh vực hoạt động của cơ quan, tổ chức chủ quản của tổ chức đó;

Trường hợp đề xuất thực hiện chức năng, nhiệm vụ chưa có trong Danh mục đề nghị xin ý kiến của Bộ Khoa học và Công nghệ.

c) Nhân lực khoa học và công nghệ, cơ sở vật chất - kỹ thuật đáp ứng yêu cầu thực hiện mục tiêu, phương hướng và điều lệ tổ chức và hoạt động.”

- Khoản 2 bổ sung điểm d) “Phù hợp với quy hoạch mạng lưới tổ chức khoa học và công nghệ công lập đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt” để tạo sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống tổ chức khoa học và công nghệ công lập.

- Khoản 4 bổ sung nội dung sau vào cuối khoản:

Các tổ chức, doanh nghiệp có hoạt động khoa học và công nghệ được khuyến khích đăng ký hoạt động tại cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về khoa học và công nghệ khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện hoạt động như đối với tổ chức khoa học và công nghệ.

Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ có thời hạn 05 (năm) năm.

9. Điều 12. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục thành lập, sáp nhập, chia, tách, giải thể tổ chức khoa học và công nghệ

- Sửa đổi, bổ sung theo hướng bỏ quy định tại điểm d khoản 1 Điều này (d) Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thành lập tổ chức khoa học và công nghệ thuộc Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;) vì thực tiễn hiện nay không còn tổ chức khoa học và công nghệ do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao thành lập.

- Khoản 3 bổ sung nội dung:Chính phủ ban hành Danh mục các lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ và Danh mục dịch vụ khoa học và công nghệ làm cơ sở để tổ chức khoa học và công nghệ lựa chọn lĩnh vực xin đăng ký và cơ quan cấp giấy chứng nhận xác định lĩnh vực hoạt động khoa học và công nghệ cấp cho tổ chức” vì hiện nay chưa có các danh mục chi tiết nên khó khăn trong việc xác định phạm vi lĩnh vực hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ.

10. Điều 13. Quyền của tổ chức khoa học và công nghệ

- Khoản 1 sửa đổi, bổ sung quy định tại khoản này thành: Tổ chức khoa học và công nghệ công lập được quyết định số lượng người làm việc hoặc được cơ quan có thẩm quyền giao số lượng người làm việc theo quy định” vì hiện nay không còn khái niệm biên chế sự nghiệp và không phải mọi tổ chức khoa học và công nghệ công lập đều được giao số lượng người làm việc mà còn tùy thuộc vào mức độ tự chủ của tổ chức khoa học và công nghệ công lập.

- Khoản 4 bổ sung quy định tổ chức khoa học và công nghệ “có quyền góp vốn bằng kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ thuộc quyền sở hữu của mình”.

- Bổ sung khoản 10 quy định “được miễn trừ một phần/hoặc toàn bộ trách nhiệm bồi hoàn ngân sách nhà nước trong trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ được giao dù đã thực hiện đúng, đủ quy định pháp luật và quy trình nghiên cứu được cấp có thẩm quyền phê duyệt”.

- Bổ sung khoản 11 quy định về “tùy theo mức độ tự chủ, tổ chức khoa học và công nghệ được ưu đãi tương tự doanh nghiệp khoa học và công nghệ” nhằm tạo động lực thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, liên kết, thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ.

11. Điều 14. Nghĩa vụ của tổ chức khoa học và công nghệ

- Khoản 1 sửa đổi, bổ sung như sau: “Thực hiện đầy đủ, kịp thời nghĩa vụ về đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ, đăng ký thay đổi nội dung hoạt động khoa học và công nghệ, các báo cáo theo quy định của Luật Khoa học và Công nghệ. Chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ và các báo cáo; trường hợp phát hiện thông tin đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ thì phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các thông tin đó”.

- Chuyển khoản 2 xuống thành khoản 6 và sửa đổi, bổ sung như sau: ”6. Thực hiện hợp đồng khoa học và công nghệ đã ký kết, nhiệm vụ khoa học và công nghệ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giao”.

- Bổ sung khoản 2 mới như sau: “Đáp ứng đủ điều kiện đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ và bảo đảm duy trì đủ điều kiện đó trong suốt quá trình hoạt động”.

- Bổ sung khoản 3 mới như sau:Thực hiện hoạt động khoa học và công nghệ theo đúng lĩnh vực trong giấy chứng nhận đăng ký hoạt động khoa học và công nghệ”.

- Bổ sung khoản 5 mới như sau: “Bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người làm việc tại tổ chức khoa học và công nghệ theo quy định của pháp luật; thực hiện các chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm khác cho người lao động theo quy định của pháp luật. Hằng năm có trách nhiệm phối hợp và cử cán bộ tham gia hoạt động trong doanh nghiệp.”

- Chuyển khoản 3 xuống thành khoản 4.

- Chuyển khoản 4 xuống thành khoản 7.

- Chuyển khoản 5 xuống thành khoản 8.

- Chuyển khoản 6 xuống thành khoản 9.

- Bổ sung khoản 10 mới như sau: “Thực hiện cập nhật đầy đủ thông tin về tổ chức, nhiệm vụ khoa học và công nghệ vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học và công nghệ.”

- Chuyển khoản 7 xuống thành khoản 11.

- Bổ sung khoản 12 giao Chính phủ ban hành quy định về cơ chế tự chủ của tổ chức KH&CN công lập.

12. Điều 16. Mục đích, nguyên tắc đánh giá, xếp hạng tổ chức khoa học và công nghệ

Khoản 1 sửa đổi, bổ sung nội dung “Đánh giá khoa học và công nghệ là việc sử dụng kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn, tiêu chí và phương pháp đánh giá để xác định năng lực và hiệu quả hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ”.

13. Điều 17. Đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ phục vụ quản lý nhà nước

- Khoản 1 sửa đổi, bổ sung như sau: “Tổ chức khoa học và công nghệ công lập phải được đánh giá để phục vụ quản lý nhà nước và đổi mới, cải tiến, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức, làm cơ sở để hỗ trợ kinh phí những năm tiếp theo”.

- Khoản 2 sửa đổi, bổ sung như sau: 2. Việc đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ phục vụ quản lý nhà nước do cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ thực hiện hoặc thông qua tổ chức đánh giá độc lập hoặc Hội đồng đánh giá do các bộ, ngành, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập. Tùy theo yêu cầu quản lý, việc đánh giá được thực hiện với một giai đoạn hoặc đánh giá hằng năm”.

- Bổ sung khoản 4 quy định: “Giao Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.

14. Điều 19. Chức danh nghiên cứu khoa học, chức danh công nghệ

Khoản 2 bổ sung quy định về các chức danh công nghệ để phù hợp với thực tiễn triển khai hoạt động khoa học và công nghệ, bao gồm: Trưởng nhóm nghiên cứu; Kỹ sư trưởng; Tổng công trình sư”.

Bỏ quy định giao Chính phủ quy định cụ thể chức danh công nghệ.

15. Điều 20. Quyền của cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ

- Bổ sung khoản 13 quy định tương tự như điểm d khoản 1 Điều 23, cụ thể: “Được miễn trách nhiệm dân sự trong trường hợp xảy ra thiệt hại, rủi ro gây ra cho Nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do nguyên nhân khách quan, mặc dù đã thực hiện đầy đủ quy trình, quy định về nghiên cứu khoa học” nhằm thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị về bảo vệ và khuyến khích cán bộ khoa học mạnh dạn, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm. Trong đó chấp nhận tính rủi ro trong hoạt động khoa học và công nghệ và trong các tình huống cấp bách, vì lợi ích của cộng đồng.

Bổ sung quy định hoặc giao Chính phủ quy định về “nguyên nhân khách quan”.

- Bổ sung khoản 14 quy định: “Được đào tạo, bồi dưỡng cập nhật kiến thức hằng năm hoặc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với nhiệm vụ được giao theo vị trí việc làm hoặc chức danh nghề nghiệp” để nâng cao năng lực cho cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ.

16. Điều 21. Nghĩa vụ của cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ

- Khoản 3: bổ sung quy định về “thực hành đạo đức khoa học hoặc liêm chính học thuật trong hoạt động khoa học và công nghệ”.

- Bổ sung khoản 5 mới như sau: “Thực hiện cập nhật đầy đủ thông tin về cán bộ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học và công nghệ”.

- Chuyển khoản 5 thành khoản 6 và bổ sung quy định về trách nhiệm liên quan đến giữ bí mật, bảo mật về dữ liệu, về hoạt động... trong thực hiện hoạt động khoa học và công nghệ.

17. Điều 22. Đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về khoa học và công nghệ

- Bổ sung khoản 3a sau khoản 3 quy định trách nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong việc thực hiện đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài về khoa học và công nghệ như sau: “Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện Kế hoạch đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài khoa học và công nghệ thuộc phạm vi quản lý”.

18. Điều 23. Ưu đãi trong việc sử dụng nhân lực, nhân tài khoa học và công nghệ

- Khoản 2 bổ sung quy định tiêu chí xác định “nhà khoa học đầu ngành” để thuận lợi trong quá trình thực thi các quy định ưu đãi đối với nhà khoa học đầu ngành.

- Chuyển khoản 5 hiện tại xuống thành khoản 8.

- Bổ sung khoản 5 quy định ưu đãi đối với chức danh “Trưởng nhóm nghiên cứu”.

- Bổ sung khoản 6 quy định ưu đãi đối với chức danh Kỹ sư trưởng”.

- Bổ sung khoản 7 quy định ưu đãi đối với chức danh “Tổng công trình sư”.

19. Điều 77. Danh hiệu vinh dự Nhà nước, khen thưởng và giải thưởng về khoa học và công nghệ

Sửa đổi, bổ sung nội dung để phù hợp với Luật Thi đua, khen thưởng.

20. Điều 25Nhiệm vụ khoa học và công nghệ

- Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:

“2. Nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước bao gồm nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh và cấp cơ sở do cơ quan có thẩm quyền quy định tại Điều 27 của Luật này xác định.

Nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia, cấp bộ, cấp tỉnh phải thực hiện theo hình thức đặt hàng. Căn cứ vào Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Quốc gia, của ngành và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương, các bộ, ngành, địa phương đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ để giải quyết vấn đề của Quốc gia, ngành, địa phương và tiếp nhận kết quả nghiên cứu để triển khai ứng dụng.

- Bổ sung khoản 3 như sau: “Khuyến khích doanh nghiệp đặt hàng các nhiệm vụ nghiên cứu từ kinh phí của doanh nghiệp cho các viện nghiên cứu, trường đại học thực hiện để giải quyết vấn đề của doanh nghiệp”.

- Chuyển khoản 3 hiện tại xuống thành khoản 4 và bổ sung quy định “Chính phủ quy định chi tiết Điều này và quy định tiêu chí xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ các cấp phù hợp với từng giai đoạn phát triển và lĩnh vực khoa học và công nghệ; biện pháp khuyến khích đề xuất ý tưởng khoa học, nhiệm vụ khoa học và công nghệ”.

21. Điều 26. Đề xuất nhiệm vụ khoa học và công nghệ

Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 như sau:

c) Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm chủ động hoặc theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia cấp bách, đột xuất, cấp thiết, mới phát sinh có tác động lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, khi xuất hiện thiên tai, dịch bệnh, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của nhân dân; tổ chức lấy ý kiến tư vấn về các nhiệm vụ này.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định về quy trình rút gọn đối với các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia quy định tại điểm này;

22. Điều 27. Thẩm quyền phê duyệt, ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ

- Sửa đổi, bổ sung khoản 2 như sau:

“Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan nhà nước khác ở trung ương ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia do Thủ tướng Chính phủ giao/quyết định.

Cơ quan có thẩm quyền ký hợp đồng nhiệm vụ khoa học và công nghệ có thể phân cấp cho đơn vị trực thuộc/cơ quan nhà nước cấp dưới ký hợp đồng.”

- Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:

3. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan nhà nước khác ở trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm báo cáo, cập nhật đầy đủ thông tin nhiệm vụ khoa học và công nghệ đã được phê duyệt và ký hợp đồng thực hiện vào cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học và công nghệ.”

23. Điều 30. Nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước được giao trực tiếp

- Điểm c khoản 1: bỏ quy định về việc giao trực tiếp nhiệm vụ KH&CN chỉ có một tổ chức thực hiện do có đủ căn cứ xác định trong thực tiễn.

- Bổ sung khoản 2ª giao Bộ trưởng Bộ KH&CN quy định trình tự, thủ tục giao trực tiếp.

24. Bổ sung Điều 32 a quy định về quy trình xác định nhiệm vụ, tuyển chọn, giao trực tiếp các nhiệm vụ hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo do tính chất khác biệt so với nhiệm vụ khoa học và công nghệ quy định tại các Điều thuộc Chương IV.

25. Điều 33. Phân loại hợp đồng khoa học và công nghệ

Khoản 3: bổ sung quy định về điều chỉnh nội dung hợp đồng khoa học và công nghệ, chấm dứt hợp đồng khoa học và công nghệ và giao Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết.

26. Điều 37. Đánh giá, nghiệm thu kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ

- Khoản 2: bổ sung thẩm quyền của các Bộ, ngành đối với những trường hợp phức tạp vượt quá khả năng đánh giá của địa phương. Sửa đổi, bổ sung quy định về đánh giá kết quả nhiệm vụ khoa học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước: sửa đổi, bổ sung về thủ tục đánh giá; thẩm quyền đánh giá, công nhận phù hợp với quy định của Luật Chuyển giao công nghệ.

- Khoản 4 sửa đổi, bổ sung như sau:

“4. Hằng năm, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố công khai thông tin về danh mục và kết quả chương trình, đề tài khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước đã được nghiệm thu.”.

27. Điều 39. Đăng ký, lưu giữ kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ

Sửa đổi, bổ sung khoản 3 như sau:

“3. Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan nhà nước khác ở trung ương và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm báo cáo, cập nhật đầy đủ thông tin kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ vào cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học và công nghệ.”

28. Điều 40. Trách nhiệm tiếp nhận và tổ chức ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ

Sửa đổi, bổ sung khoản 1 như sau:

Đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan nhà nước khác ở trung ương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có trách nhiệm tiếp nhận, tổ chức ứng dụng, bố trí kinh phí, đánh giá hiệu quả ứng dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do mình đề xuất đặt hàng hoặc đặt hàng sau khi được đánh giá, nghiệm thu; chỉ đạo cập nhật thông tin về ứng dung kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ vào cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học và công nghệ; định kỳ hằng năm gửi báo cáo đánh giá hiệu quả đầu tư của Nhà nước cho hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ thuộc phạm vi quản lý về Bộ Khoa học và Công nghệ để tổng hợp.”

29. Điều 41. Quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

Sửa đổi, bổ sung Điều 41 như sau:

“Trường hợp hợp đồng nghiên cứu xác định được tách bạch phần quyền sở hữu của Nhà nước và tổ chức chủ trì đối với kết quả KH&CN thì tổ chức chủ trì có toàn bộ quyền sở hữu đối với phần kết quả KH&CN hình thành từ vốn của tổ chức, được quyền ứng dụng, khai thác, thương mại hóa đối với phần kết quả thuộc sở hữu của mình.

- Trường hợp không xác định được riêng quyền sở hữu của Nhà nước và của tổ chức chủ trì thì áp dụng theo quy định giao quyền của Luật quản lý và sử dụng tài sản công”. Tuy nhiên, cần phân rõ hai trường hợp: (1) đối với nhiệm vụ KH&CN được ngân sách hỗ trợ đến 30%, tổ chức chủ trì được quyền sở hữu, sử dụng, khai thác, thương mại hóa kết quả nhiệm vụ ngay sau khi nghiệm thu; (2) đối với nhiệm vụ ngân sách đầu tư trên 30%, tổ chức chủ trì thực hiện thủ tục đề nghị giao quyền theo quy định hiện hành”. 

30. Điều 42. Quyền tác giả đối với kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

“Người trực tiếp tạo ra kết quả nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ là tác giả của kết quả nghiên cứu (có thể ràng buộc phải yêu cầu thỏa thuận tác giả kết quả trên cơ sở hợp đồng để tránh phát sinh trường hợp thay đổi thành viên thực hiện).

31. Điều 43. Phân chia lợi nhuận khi sử dụng, chuyển giao quyền sử dụng, chuyển nhượng, góp vốn bằng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sử dụng ngân sách nhà nước

- Quy định rõ phân chia lợi nhuận “sau thuế”.

- Bổ sung (làm rõ) phân chia lợi nhuận cho đối tượng tổ chức trung gian, tổ chức, cá nhân tham gia thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

32. Điều 46. Ứng dụng khoa học và công nghệ trong dự án đầu tư, chương trình phát triển kinh tế - xã hội

- Sửa đổi đối tượng thẩm định công nghệ phù hợp với quy định của Luật Chuyển giao công nghệ.

- Sửa đổi trình tự thẩm định công nghệ phù hợp với quy định của Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Đầu tư.

33. Điều 47. Khuyến khích hoạt động sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và đổi mới sáng tạo

- Khoản 1 bổ sung nội dung liên quan đến khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

- Khoản 2 bổ sung nội dung liên quan đến khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

- Khoản 3 bổ sung nội dung liên quan đến khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

- Khoản 4 bổ sung nội dung liên quan đến khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

34. Điều 50. Mục đích chi ngân sách nhà nước cho khoa học và công nghệ

Bổ sung khoản 8a nội dung về chi của ngân sách nhà nước cho hỗ trợ, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo;

35. Điều 56. Đầu tư của doanh nghiệp cho khoa học và công nghệ

Sửa tên Điều và nội dung điều, bổ sung “đổi mới sáng tạo”

36. Điều 58. Phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ

- Khoản 1: sửa đổi, bổ sung khái niệm doanh nghiệp khoa học và công nghệ như sau: “Doanh nghiệp khoa học và công nghệ là doanh nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh trên cơ sở ứng dụng, khai thác kết quả khoa học và công nghệ”. Thuật ngữ kết quả KH&CN bao gồm tất cả các dạng kết quả của hoạt động KH&CN (bao hàm cả hoạt động chuyển giao công nghệ)

- Khoản 2 điểm c bỏ quy định về điều kiện tỷ lệ doanh thu khi cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ, thay thế bằng điều kiện “doanh nghiệp có phương án kinh doanh thương mại hóa kết quả khoa học và công nghệ”. Quy định về tỷ lệ doanh thu chỉ là điều kiện để doanh nghiệp khoa học và công nghệ được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp.

- Khoản 3 bổ sung điểm e quy định cụ thể về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp khoa học và công nghệ (bao gồm: thuế suất ưu đãi và thời gian miễn, giảm thuế), làm cơ sở để đề xuất bổ sung quy định về ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp khoa học và công nghệ vào Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.

37. Bổ sung Điều 58a. Phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

38. Điều 60. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia

- Khoản 1 bỏ quy định cho vay với lãi suất thấp hoặc không lấy lãi để thực hiện việc ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vào sản xuất và đời sống; bảo lãnh vốn vay đối với một số nhiệm vụ khoa học và công nghệ chuyên biệt”.

39. Điều 64. Chính sách thuế đối với hoạt động khoa học và công nghệ

-  Sửa tên Điều bổ sung “đổi mới sáng tạo”.

- Bổ sung khoản 3a quy định về ưu đãi thuế và tín dụng cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, quỹ đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo, cơ sở ươm tạo, tổ chức thúc đẩy kinh doanh.

40. Điều 63. Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp

Khoản 2 sửa đổi, bổ sung theo hướng khuyến khích doanh nghiệp trích Quỹ, mức trích tối đa không quá 10% thu nhập tính thuế thu nhập doanh nghiệp (không quy định mức tối thiểu và không phân biệt doanh nghiệp nhà nước hay doanh  nghiệp ngoài nhà nước).

41. Điều 65. Chính sách tín dụng đối với hoạt động khoa học và công nghệ

- Bổ sung quy định về ưu đãi tín dụng cho doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, quỹ đầu tư cho khởi nghiệp sáng tạo, cơ sở ươm tạo, tổ chức thúc đẩy kinh doanh.

- Bổ sung nội dung về việc hình thành Quỹ Đầu tư khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia nhằm thống nhất với các văn bản quy phạm khác (Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Luật chuyển giao công nghệ), đồng thời, bổ sung một số cơ chế, chính sách nhằm khơi thông nguồn vốn cho hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

- Khoản 3: bỏ khoản này vì theo quy định tại Nghị định số 32/2017/NĐ-CP của Chính phủ về tín dụng đầu tư của Nhà nước đã bãi bỏ quy định này. Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo dừng triển khai cơ chế bảo lãnh tín dụng qua ngân hàng phát triển.

42. Điều 68. Xây dựng, phát triển hạ tầng thông tin, thống kê khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học và công nghệ

Sửa đổi, bổ sung như sau:

“1. Nhà nước đầu tư xây dựng, phát triển, hiện đại hoá hạ tầng thông tin, thống kê khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học và công nghệ. Khuyến khích cá nhân, tổ chức hợp tác, đầu tư phát triển hạ tầng thông tin, thống kê khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cơ sở dữ liệu quốc gia về khoa học và công nghệ.

2. Chính phủ quy định cụ thể Điều này.”

43. Bổ sung quy định về phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, các khu dịch vụ tập trung, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo tại Chương VII: xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển thị trường khoa học và công nghệ.

44. Điều 70 về nguyên tắc hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ

- Khoản 1 Điều 70: bổ sung nguyên tắc “tham gia, đóng góp vào giải quyết các vấn đề chung về khoa học và công nghệ của khu vực và thế giới”.

- Khoản 2 Điều 70: bổ sung nguyên tắc bảo đảm cơ chế tài chính và ngân sách phục vụ cho các hoạt động hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ tại khoản 2 Điều 70

- Khoản 4 Điều 70: sửa đổi, bổ sung quy định theo hướng tranh thủ tối đa điều kiện, nguồn lực nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.

45. Điều 71 về hoạt động hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ

- Khoản 1 Điều 71: bổ sung hoạt động tham gia xây dựng, định hình các cơ chế hợp tác khoa học và công nghệ khu vực và quốc tế.

- Điểm c khoản 1 Điều 71: bổ sung hoạt động thành lập tổ chức hợp tác nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ theo mô hình tiên tiến của nước ngoài ở Việt Nam.

- Bổ sung quy định mới về hoạt đông xây dựng và thực hiện các chương trình, hoạt động hội nhập quốc tế phục vụ phát triển khoa học và công nghệ các khu vực, địa phương trong nước

46. Điều 72 về biện pháp thúc đẩy hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ

Khoản 4 Điều 72: bổ sung biện pháp hỗ trợ phát triển tổ chức, nhóm nghiên cứu khoa học và công nghệ đạt tiêu chuẩn khu vực, quốc tế

47. Điều 74. Trách nhiệm của Bộ Khoa học và Công nghệ

Bổ sung khoản 4a quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về đổi mới sáng tạo, phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia và quy định về triển khai Đề án phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia.

48. Điều 75. Trách nhiệm của bộ, cơ quan ngang bộ

Khoản 3 bỏ quy định về trách nhiệm của Bộ Nội vụ tại điểm b khoản 3 Điều 75: “b) Chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, cơ quan có liên quan giao biên chế cho tổ chức khoa học và công nghệ công lập.”.

49. Điều 76. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh

- Bổ sung nội dung quản lý nhà nước về đổi mới sáng tạo tại lời dẫn.

- Khoản 1 bổ sung nội dung về đổi mới sáng tạo.

- Khoản 2 bổ sung nội dung về đổi mới sáng tạo.

- Khoản 3 bổ sung nội dung về đổi mới sáng tạo.

- Khoản 4 bổ sung nội dung về đổi mới sáng tạo.

- Khoản 5 bổ sung nội dung về đổi mới sáng tạo.

- Khoản 6 bổ sung nội dung về đổi mới sáng tạo.

- Khoản 7 bổ sung nội dung về đổi mới sáng tạo.

50. Điều 77. Danh hiệu vinh dự Nhà nước, khen thưởng và giải thưởng về khoa học và công nghệ

- Chuyển khoản 1 hiện tại lên thành phần dẫn của Điều 77 như sau: “Tổ chức, cá nhân có thành tích trong sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ được phong, tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước, giải thưởng và các hình thức khen thưởng khác của Nhà nước theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng”.

- Khoản 1 sửa đổi, bổ sung như sau: “1. Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ để tặng cho cá nhân là tác giả hoặc đồng tác giả của một hoặc nhiều công trình khoa học và công nghệ xuất sắc và được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi đua, khen thưởng”.

- Khoản 2 sửa đổi, bổ sung như sau: “2. Giải thưởng của bộ, ngành, địa phương về khoa học và công nghệ để tặng cho cá nhân là tác giả hoặc đồng tác giả của một hoặc nhiều công trình khoa học và công nghệ xuất sắc trong phạm vi quản lý của bộ, ngành, địa phương, được xét tặng không dưới 3 năm một lần nếu tiền thưởng lấy từ nguồn ngân sách nhà nước, công bố và trao giải thưởng vào dịp kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam (ngày 18 tháng 5).

Bộ, ngành, địa phương căn cứ căn cứ điều kiện cụ thể để quyết định việc tổ chức giải thưởng về khoa học và công nghệ và quy định chi tiết về giải thưởng trong phạm vi quản lý”.

- Khoản 3 sửa đổi, bổ sung như sau: “3. Giải thưởng về khoa học và công nghệ do tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức quốc tế, tổ chức, cá nhân nước ngoài đặt và tặng nhằm khuyến khích phát triển khoa học và công nghệ tại Việt Nam theo quy định của pháp luật. Chính phủ quy định chi tiết việc đặt và tặng giải thưởng của tổ chức, cá nhân về khoa học và công nghệ.

Điều 2. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày ... tháng ... năm ...

Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa ...., kỳ họp thứ ... thông qua ngày ... tháng ... năm ..../.

 

 

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

 

Văn bản bị thay thế
Văn bản được dẫn chiếu
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo 2025

Số hiệu: 93/2025/QH15
Loại văn bản: Luật
Ngày ban hành: 27/06/2025
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Trần Thanh Mẫn
Ngày công báo: Đang cập nhật
Số công báo: Đang cập nhật
Ngày hiệu lực: 01/10/2025
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Lĩnh vực khác
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký