Tóm tắt Hiệp định về chuyển giao người bị kết án phạt tù giữa Việt Nam và Đại Hàn Dân Quốc
Hiệp định về chuyển giao người bị kết án phạt tù giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đại Hàn Dân Quốc được ký kết tại Xơ-un vào ngày 29 tháng 5 năm 2009. Đây là văn bản hợp tác pháp lý song phương quan trọng nhằm tạo điều kiện cho người bị kết án phạt tù được chuyển giao về quốc gia mà họ là công dân để tiếp tục chấp hành hình phạt, qua đó hỗ trợ quá trình cải tạo và tái hòa nhập cộng đồng của người bị kết án.
Thông tin chung về Hiệp định
- Đại diện ký kết của Việt Nam: Thứ trưởng Bộ Công an - Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng.
- Đại diện ký kết của Đại Hàn Dân Quốc: Thứ trưởng Bộ Ngoại giao và Thương mại - Kwon Jong-Rak.
- Ngày ký chính thức: Ngày 29 tháng 5 năm 2009 tại Xơ-un.
- Ngôn ngữ văn bản: Được lập thành hai bản bằng tiếng Việt, tiếng Hàn và tiếng Anh. Trong trường hợp có sự khác biệt về giải thích, bản tiếng Anh được sử dụng làm căn cứ đối chiếu.
- Hiệu lực: Hiệp định có hiệu lực vào ngày thứ ba mươi (30) sau ngày hai Bên trao đổi văn kiện phê chuẩn.
Các định nghĩa pháp lý cốt lõi (Điều 1)
Hiệp định quy định rõ các khái niệm cơ bản để áp dụng thống nhất:
- Bên chuyển giao: Quốc gia nơi người bị kết án phạt tù đang chấp hành hình phạt và từ đó người này có thể hoặc đã được chuyển giao.
- Bên nhận: Quốc gia nơi người bị kết án phạt tù có thể hoặc đã được chuyển giao đến để tiếp tục chấp hành hình phạt.
- Hình phạt: Bất kỳ sự trừng phạt hoặc biện pháp tước tự do có thời hạn hoặc không thời hạn do tòa án tuyên đối với một tội hình sự.
- Người bị kết án phạt tù: Cá nhân đã bị tòa án trong phạm vi thẩm quyền xét xử của Bên chuyển giao áp dụng hình phạt tước tự do.
- Công dân: Người mang quốc tịch của Bên chuyển giao hoặc Bên nhận.
Nguyên tắc chung và Cơ quan Trung ương thực hiện (Điều 2 & Điều 3)
- Nguyên tắc hợp tác: Hai Bên cam kết dành cho nhau sự hợp tác toàn diện nhất trong lĩnh vực chuyển giao người bị kết án phạt tù. Người bị kết án có thể được chuyển giao từ Bên chuyển giao sang Bên nhận để chấp hành hình phạt do Bên chuyển giao đã tuyên. Việc chuyển giao có thể do một trong hai Bên yêu cầu.
- Cơ quan Trung ương: Mỗi Bên chỉ định một Cơ quan Trung ương để thực hiện Hiệp định. Phía Việt Nam là Bộ trưởng Bộ Công an hoặc người được ủy quyền. Phía Đại Hàn Dân Quốc là Bộ trưởng Bộ Tư pháp hoặc người được ủy quyền. Mọi liên lạc chính thức giữa hai Bên được thực hiện qua đường ngoại giao, trừ trường hợp khẩn cấp hoặc đặc biệt.
Điều kiện chuyển giao và Xác nhận sự đồng ý (Điều 4 & Điều 5)
Mặc dù nội dung chi tiết của Điều 4 không được thể hiện đầy đủ trong phần trích xuất, các điều khoản liên quan chỉ rõ một điều kiện bắt buộc là sự đồng ý tự nguyện của người bị kết án. Quy trình xác nhận sự đồng ý được quy định chặt chẽ:
- Tính tự nguyện: Mỗi Bên phải bảo đảm người đưa ra sự đồng ý thực hiện việc này một cách hoàn toàn tự nguyện và nhận thức rõ các hệ quả pháp lý kèm theo.
- Xác minh trực tiếp: Trước khi tiến hành chuyển giao, Bên chuyển giao có trách nhiệm tạo điều kiện cho một quan chức do Bên nhận chỉ định trực tiếp xác minh tính tự nguyện và nhận thức của người bị kết án đối với việc chuyển giao.
Hiệu lực của việc chuyển giao đối với Bên chuyển giao (Điều 6)
- Khi cơ quan chức năng của Bên nhận tiếp quản người bị kết án, việc thi hành hình phạt của cơ quan có thẩm quyền thuộc Bên chuyển giao sẽ bị đình chỉ.
- Bên chuyển giao không được tiếp tục thi hành hình phạt nếu Bên nhận xác định rằng việc thi hành hình phạt đó đã kết thúc.
Thủ tục và hồ sơ chuyển giao (Điều 7)
Quy trình thực hiện chuyển giao được thiết lập qua các bước cụ thể:
- Thông báo quyền lợi: Người bị kết án phải được thông báo về quyền được chuyển giao theo Hiệp định này. Nếu họ có nguyện vọng, họ có thể đề đạt với bất kỳ Bên nào, và Bên đó phải thông báo ngay bằng văn bản cho Bên kia.
- Yêu cầu chuyển giao: Phải được lập thành văn bản, chứa các thông tin cơ bản như: họ tên, ngày sinh, nơi sinh, xác nhận quốc tịch, nơi ở hiện tại và địa chỉ thường trú (nếu có) của người bị kết án.
- Thông tin do Bên chuyển giao cung cấp: Khi có yêu cầu, Bên chuyển giao phải cung cấp cho Bên nhận các tài liệu gồm: mô tả tình tiết vụ án; bản sao văn bản pháp luật xác định hành vi phạm tội; bản chất, thời hạn và thời gian đã chấp hành hình phạt; các quyết định miễn giảm án (nếu có); bản sao bản án; và bản khai đồng ý chuyển giao của người bị kết án.
- Bàn giao thực tế: Việc bàn giao người bị kết án được thực hiện tại địa điểm và thời gian do hai Bên thỏa thuận trong phạm vi thẩm quyền xét xử của Bên chuyển giao.
Tiếp tục thi hành hình phạt tại Bên nhận (Điều 8)
Bên nhận có trách nhiệm tiếp tục thi hành hình phạt đối với người được chuyển giao theo các nguyên tắc:
- Áp dụng pháp luật nước nhận: Việc thi hành hình phạt sau chuyển giao tuân thủ hoàn toàn theo pháp luật và thủ tục của Bên nhận, bao gồm cả các quy định về giam giữ, giảm án, tạm tha hoặc trả tự do có điều kiện.
- Chuyển đổi hình phạt: Nếu tính chất hoặc thời hạn của hình phạt không tương thích với pháp luật của Bên nhận, Bên nhận có thể chuyển đổi hình phạt cho phù hợp với tội danh tương đương trong nước. Việc chuyển đổi phải dựa trên các tình tiết vụ án từ Bên chuyển giao, không được nặng hơn hình phạt ban đầu về cả tính chất lẫn thời hạn, và tuyệt đối không được chuyển đổi hình phạt tước tự do thành hình phạt tiền.
- Ân xá và giảm án: Bên nhận phải điều chỉnh hoặc chấm dứt thi hành hình phạt ngay khi nhận được thông báo từ Bên chuyển giao về quyết định ân xá, giảm án hoặc hủy bỏ hình phạt.
- Báo cáo thi hành án: Bên nhận có trách nhiệm cung cấp thông tin hoặc báo cáo riêng về tình hình thi hành án khi có yêu cầu từ Bên chuyển giao.
Bảo lưu thẩm quyền xét xử và Quá cảnh (Điều 9 & Điều 10)
- Thẩm quyền xét xử: Bên chuyển giao bảo lưu toàn bộ thẩm quyền xét xử tối cao trong việc xem xét lại bản án, việc buộc tội và hình phạt do tòa án của mình đã tuyên.
- Quá cảnh: Hai Bên cam kết hợp tác tạo điều kiện cho việc quá cảnh người bị kết án qua lãnh thổ của mình nếu Bên kia có thỏa thuận chuyển giao với một quốc gia thứ ba, trên cơ sở thông báo trước bằng văn bản.
Ngôn ngữ và Chi phí thực hiện (Điều 11)
- Ngôn ngữ: Các văn bản trao đổi hỗ trợ yêu cầu chuyển giao phải được chứng thực và kèm theo bản dịch sang ngôn ngữ của Bên chuyển giao hoặc tiếng Anh.
- Chi phí: Mọi chi phí phát sinh liên quan đến việc chuyển giao và tiếp tục thi hành án do Bên nhận chi trả (trừ các chi phí phát sinh riêng biệt thuộc thẩm quyền của Bên chuyển giao). Bên nhận có quyền thu lại một phần hoặc toàn bộ chi phí này từ chính người bị kết án.
Giải quyết tranh chấp và Các điều khoản thi hành (Điều 12 - Điều 15)
- Giải quyết tranh chấp: Mọi tranh chấp phát sinh từ việc giải thích hoặc thực hiện Hiệp định trước hết sẽ được giải quyết thông qua đàm phán giữa hai Cơ quan Trung ương. Nếu không đạt được thỏa thuận, tranh chấp sẽ được giải quyết qua đường ngoại giao.
- Phạm vi áp dụng: Hiệp định áp dụng đối với tất cả các trường hợp bị kết án phạt tù trước hoặc sau khi Hiệp định có hiệu lực, bao gồm cả các yêu cầu gửi sau khi Hiệp định có hiệu lực liên quan đến hành vi phạm tội thực hiện trước đó.
- Mối quan hệ với các thỏa thuận khác: Hiệp định không ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của các Bên theo các điều ước quốc tế khác mà hai nước là thành viên.
- Chấm dứt hiệu lực: Mỗi Bên có quyền chấm dứt Hiệp định bằng cách gửi thông báo bằng văn bản qua đường ngoại giao. Hiệp định sẽ hết hiệu lực sau 180 ngày kể từ ngày thông báo, nhưng việc chấm dứt này không ảnh hưởng đến các thủ tục chuyển giao đã được bắt đầu trước đó.
| BỘ NGOẠI GIAO | SAO Y BẢN CHÍNH |
| Số: 41/2010/SL-LPQT | Hà Nội, ngày 08 tháng 9 năm 2010 |
|
| TL. BỘ TRƯỞNG |
Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đại Hàn Dân Quốc (sau đây gọi là "các Bên");
Mong muốn tạo thuận lợi trong hợp tác pháp luật và tái hoà nhập xã hội thành công của người bị kết án phạt tù; và
Xét thấy mục đích này cần đạt được thông qua việc cho phép công dân của một Bên bị tước tự do vì phạm tội hình sự cơ hội được chấp hành hình phạt trên đất nước của mình.
Đã thỏa thuận như sau:
Trong Hiệp định này:
(a) "Bên chuyển giao" là Bên mà từ đó người bị kết án phạt tù có thể hoặc đã được chuyển giao;
(b) "Bên nhận" là Bên mà người bị kết án phạt tù có thể hoặc đã được chuyển giao đến;
(c) "Hình phạt" là bất kỳ sự trừng phạt hoặc biện pháp tước tự do có thời hạn hoặc không thời hạn do tòa án tuyên đối với một tội hình sự;
(d) "Người bị kết án phạt tù” là bất cứ người nào đã bị tòa án trong phạm vi thẩm quyền xét xử của Bên chuyển giao áp dụng hình phạt trong phạm vi định nghĩa về "hình phạt" quy định tại khoản c Điều này;
e) "Công dân" là người mang quốc tịch của Bên chuyển giao hoặc Bên nhận.
1. Phù hợp với các quy định của Hiệp định này, các Bên sẽ dành cho nhau sự hợp tác toàn diện nhất trong lĩnh vực chuyển giao người bị kết án phạt tù.
2. Phù hợp với các quy định trong Hiệp định này, người bị kết án có thể được chuyển giao từ phạm vi thẩm quyền xét xử của Bên chuyển giao đến phạm vi thẩm quyền xét xử của Bên nhận để chấp hành hình phạt mà Bên chuyển giao đã tuyên đối với người đó.
3. Việc chuyển giao người bị kết án phạt tù có thể do Bên chuyển giao hoặc Bên nhận yêu cầu.
1. Mỗi Bên sẽ chỉ định một Cơ quan Trung ương để thực hiện các quy định của Hiệp định này.
2. Cơ quan Trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Bộ trưởng Bộ Công an hoặc một quan chức được Bộ trưởng ủy quyền. Cơ quan Trung ương của Đại Hàn Dân Quốc là Bộ trưởng Bộ Tư pháp hoặc một quan chức được Bộ trưởng ủy quyền. Mỗi Bên có thể thay đổi Cơ quan Trung ương của mình, trong trường hợp đó phải thông báo ngay cho Bên kia về sự thay đổi này.
3. Các Bên sẽ liên lạc với nhau qua đường ngoại giao, trừ trường hợp khẩn cấp hoặc đặc biệt.
1. Người bị kết án phạt tù chỉ có thể được chuyển giao với các điều kiện sau đây:
(a) Hành động hoặc không hành động đã bị áp dụng hình phạt cũng cấu thành một tội hình sự theo pháp luật của Bên nhận; tuy nhiên, điều kiện này không thể được giải thích để đòi hỏi tội phạm đó phải được quy định như nhau trong pháp luật của hai Bên đối với những vấn đề không ảnh hưởng đến bản chất của tội phạm đó;
(b) Người bị kết án phạt tù phải là công dân của Bên nhận;
(c) Tại thời điểm tiếp nhận yêu cầu chuyển giao, thời gian chấp hành hình phạt của người bị kết án còn ít nhất một năm, hoặc người bị kết án đang chấp hành hình phạt không xác định thời hạn hoặc tù chung thân;
(d) Phán quyết phải là phán quyết cuối cùng và không còn thủ tục tố tụng nào đối với tội phạm đó đang chờ được tiến hành trong phạm vi thẩm quyền xét xử của Bên chuyển giao;
(e) Bên chuyển giao và Bên nhận đều đồng ý về việc chuyển giao, và
(f) Việc chuyển giao phải có sự đồng ý của người bị kết án; hoặc sự đồng ý của người đại diện hợp pháp của người đó nếu một Bên thấy cần thiết khi xem xét các điều kiện về độ tuổi, tình trạng thể chất hoặc tinh thần của người bị kết án phạt tù.
2. Trong trường hợp đặc biệt, các Bên có thể đồng ý chuyển giao khi thời gian còn lại mà người bị kết án phải chấp hành hình phạt ít hơn khoảng thời gian quy định tại khoản 1 (c) Điều này.
1. Mỗi Bên phải bảo đảm rằng người đưa ra đồng ý với việc chuyển giao quy định tại Điều 4.1 (f) thực hiện điều đó một cách tự nguyện và với nhận thức về các hệ quả kèm theo.
2. Trước khi chuyển giao, Bên chuyển giao sẽ cho phép một quan chức do Bên nhận chỉ định trực tiếp xác minh rằng người bị kết án đồng ý với việc chuyển giao theo Điều 4.1(f) một cách tự nguyện và với nhận thức về các hệ quả kèm theo
Điều 6. Hiệu lực của việc chuyển giao đối với bên chuyển giao
1. Việc cơ quan chức năng của Bên nhận tiếp quản người bị kết án phạt tù sẽ dẫn đến hệ quả đình chỉ việc thi hành hình phạt bởi cơ quan có thẩm quyền của Bên chuyển giao.
2. Bên chuyển giao sẽ không thi hành hình phạt nếu Bên nhận cho rằng việc thi hành hình phạt đó đã kết thúc.
1. Các Bên sẽ thông báo cho người bị kết án phạt tù về quyền được chuyển giao theo Hiệp định này.
2. Nếu người bị kết án phạt tù mong muốn được chuyển giao thì có thể để đạt nguyện vọng đó với bất cứ Bên nào, Bên đó sẽ thông báo ngay bằng văn bản cho Bên kia biết nguyện vọng này.
3. Yêu cầu chuyển giao có thể do bất kỳ Bên nào đưa ra. Bên nhận thông báo ngay cho Bên yêu cầu về quyết định có đồng ý với yêu cầu chuyển giao hay không
4. Yêu cầu chuyển giao phải được lập thành văn bản, gồm các thông tin sau đây:
(a) Họ tên, ngày sinh và nơi sinh của người bị kết án phạt tù;
(b) Xác nhận về tình trạng quốc tịch của người bị kết án; và
(c) Nơi ở hiện tại của người bị kết án phạt tù và địa chỉ thường trú của người đó, nếu có.
5. Khi có yêu cầu chuyển giao, Bên chuyển giao, trong phạm vi có thể, sẽ cung cấp bằng văn bản cho Bên nhận các thông tin sau:
(a) Mô tả tình tiết sự kiện làm cơ sở cho việc kết án và tuyên hình phạt;
(b) Một bản sao văn bản pháp luật có liên quan quy định hành động hoặc không hành động đã bị tuyên hình phạt tại Bên chuyển giao cấu thành một tội phạm;
(c) Bản chất và thời hạn của hình phạt, ngày chấm dứt hình phạt, nếu có, thời gian đã chấp hành hình phạt của người bị kết án và bất kỳ sự miễn, giảm hình phạt nào mà người đó có được vì những việc đã làm, do có thái độ cải tạo tốt, do đã bị giam giữ trước khi xét xử hoặc vì lý do khác;
d) Một bản sao giấy chứng nhận hoặc trích lục hồ sơ bản án và hình phạt; và
e) Bản khai thể hiện sự đồng ý đối với việc chuyển giao theo quy định tại Điều 4.1(f).
6. Theo yêu cầu của một Bên, trong phạm vi có thể, Bên kia sẽ cung cấp các thông tin tài liệu hoặc văn bản có liên quan trước khi đưa ra yêu cầu chuyển giao hoặc quyết định có đồng ý với việc chuyển giao hay không. Trong trường hợp này, Bên nhận phải thông báo cho Bên chuyển giao biết Bên đó có ý định điều chỉnh hình phạt theo quy định tại Điều 8.3 hay không.
7. Cơ quan có thẩm quyền của Bên chuyển giao sẽ bàn giao người bị kết án cho cơ quan có thẩm quyền của Bên nhận đúng thời gian và địa điểm trong phạm vi thẩm quyền xét xử của Bên chuyển giao đã được hai Bên thỏa thuận.
8. Các Bên sẽ thông báo bằng văn bản cho người bị kết án mọi hoạt động của Bên chuyển giao hoặc Bên nhận được tiến hành theo quy định tại khoản trên Điều này.
Điều 8. Tiếp tục thi hành hình phạt
1. Bên nhận sẽ tiếp tục thi hành hình phạt mà Bên chuyển giao đã tuyên đối với người bị kết án tương tự như hình phạt đó được tuyên tại Bên nhận hoặc sẽ chuyển đổi hình phạt theo các điều kiện được quy định tại khoản 3 Điều này.
2. Việc tiếp tục thi hành hình phạt sau khi chuyển giao được điều chỉnh theo pháp luật và thủ tục của Bên nhận, bao gồm cả pháp luật về các điều kiện thi hành hình phạt tù giam giữ hoặc các biện pháp tước tự do khác, cũng như các quy định về giảm thời hạn phạt tù, thời hạn giam giữ hoặc thời hạn áp dụng các biện pháp tước tự do khác do tạm tha, trả tự do có điều kiện, giảm án hoặc bằng hình thức khác.
3. Nếu tính chất hoặc thời hạn của hình phạt không phù hợp với pháp luật của Bên nhận thì Bên đó có thể chuyển đổi hình phạt cho phù hợp với hình phạt quy định đối với tội phạm tương tự theo pháp luật nước mình. Khi chuyển đổi hình phạt, cơ quan có thẩm quyền của Bên nhận sẽ phải căn cứ vào các sự kiện của vụ án đã được thể hiện trong các ý kiến, bản luận tội, phán quyết hoặc hình phạt đã được tuyên ở Bên chuyển giao. Hình phạt được chuyển đổi không được nặng hơn so với hình phạt đã được tuyên tại Bên chuyển giao về tính chất và thời hạn. Tuy nhiên, khi chuyển đổi hình phạt, cơ quan có thẩm quyền của Bên nhận không được chuyển đổi hình phạt tước tự do thành hình phạt tiền.
4. Bên nhận điều chỉnh hoặc chấm dứt việc chi hành hình phạt ngay sau khi được thông báo về quyết định ân xá của Bên chuyển giao đối với người bị kết án hoặc về bất kỳ quyết định hay biện pháp nào của Bên chuyển giao dẫn đến việc hủy bỏ hoặc giảm hình phạt.
5. Nếu Bên chuyển giao yêu cầu, Bên nhận sẽ cung cấp các thông tin liên quan đến việc thi hành hình phạt. Mỗi Bên, vào bất cứ thời gian nào, có thể yêu cầu cung cấp một bản báo cáo riêng về tình hình thi hành một hình phạt cụ thể.
Điều 9. Bảo lưu thẩm quyền xét xử
Bên chuyển giao bảo lưu toàn bộ thẩm quyền xét xử trong việc xem xét lại việc buộc tội và hình phạt do tòa án của Bên đó tuyên.
Điều 10. Quá cảnh người bị kết án
Nếu một Bên có thỏa thuận với một nước, thứ ba về việc chuyển giao người bị kết án phạt tù, Bên kia sẽ hợp tác tạo điều kiện cho việc quá cảnh người bị kết án qua lãnh thổ của nước mình theo thỏa thuận. Bên có dự định thực hiện việc chuyển giao sẽ phải thông báo trước cho Bên kia về việc quá cảnh đó.
1. Văn bản trao đổi giữa các Bên hỗ trợ cho yêu cầu chuyển giao người bị kết án phạt tù phải được chứng thực và kèm theo bản dịch sang ngôn ngữ của Bên chuyển giao hoặc tiếng Anh.
2. Mọi chi phí phát sinh liên quan đến việc chuyển giao người bị kết án phạt tù hoặc việc tiếp tục thi hành hình phạt sau khi chuyển giao sẽ do Bên nhận chi trả, trừ chi phí phát sinh riêng đối với Bên chuyển giao trong phạm vi thẩm quyền xét xử của mình. Tuy nhiên, Bên nhận có thể thu lại toàn bộ hoặc một phần chi phí chuyển giao từ người bị kết án phạt tù.
Điều 12. Giải quyết tranh chấp
Tranh chấp phát sinh từ việc giải thích, áp dụng hoặc thực hiện Hiệp định này sẽ được giải quyết thông qua đàm phán giữa các Cơ quan Trung ương. Trường hợp các Cơ quan Trung ương không thể đạt được thỏa thuận, tranh chấp sẽ được các Bên giải quyết thông qua đường ngoại giao.
Hiệp định này được áp dụng đối với việc chuyển giao người bị kết án phạt tù đã bị kết án trước hoặc sau khi Hiệp định có hiệu lực.
Hiệp định này không ảnh hưởng đến nghĩa vụ của các Bên theo các điều ước quốc tế hoặc thỏa thuận khác, cũng như không ngăn cản các Bên trong việc trợ giúp hoặc tiếp tục trợ giúp lẫn nhau theo các điều ước quốc tế hoặc thỏa thuận khác.
1. Hiệp định này phải được phê chuẩn. Các văn kiện phê chuẩn sẽ được trao đổi sớm nhất có thể. Hiệp định này có hiệu lực vào ngày thứ ba mươi (30), sau ngày trao đổi văn kiện phê chuẩn.
2. Mỗi Bên có thể chấm dứt hiệu lực của Hiệp định này bằng việc gửi thông báo bằng văn bản qua đường ngoại giao vào bất kỳ thời điểm nào. Hiệp định sẽ chấm dứt hiệu lực vào ngày thứ một trăm tám mươi (180), sau ngày đưa ra thông báo đó. Việc chấm dứt hiệu lực của Hiệp định không ảnh hưởng đến các thủ tục chuyển giao đã bắt đầu trước khi Hiệp định chấm dứt hiệu lực.
3. Hiệp định này được áp dụng đối với các yêu cầu được gửi sau khi Hiệp định có hiệu lực, kể cả trường hợp yêu cầu chuyển giao liên quan đến hành vi phạm tội được thực hiện trước khi Hiệp định có hiệu lực.
ĐỂ LÀM BẰNG, những người có tên dưới đây, được nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đại Hàn Dân Quốc ủy quyền hợp thức, đã ký Hiệp định này.
Làm tại Xơ-un thành hai bản, vào ngày 29 tháng 5 năm 2009 bằng tiếng Việt, tiếng Hàn và tiếng Anh, các văn bản có giá trị như nhau. Trong trường hợp có khác biệt về giải thích, bản tiếng Anh sẽ được sử dụng làm căn cứ để đối chiếu./.
| THAY MẶT | THAY MẶT |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.