Tổng quan về Hiệp định và Giải thích từ ngữ
Hiệp định về chuyển giao người bị kết án phạt tù giữa Việt Nam và Ô-xtrây-lia được ký kết nhằm thiết lập cơ chế hợp tác tư pháp hình sự giữa hai nước, tạo điều kiện cho người đang chấp hành hình phạt tù được chuyển giao về quốc gia gốc hoặc nơi có mối liên hệ gia đình, xã hội để tiếp tục chấp hành bản án. Việc chuyển giao giúp tạo thuận lợi cho quá trình tái hòa nhập cộng đồng của phạm nhân. Các từ ngữ chuyên môn trong Hiệp định được giải thích rõ ràng:
- Bên chuyển giao: Là quốc gia nơi bản án phạt tù được tuyên và là nơi phạm nhân đang chấp hành hình phạt trước khi chuyển giao.
- Bên nhận: Là quốc gia tiếp nhận phạm nhân được chuyển giao đến để tiếp tục thi hành hình phạt tù.
- Người bị kết án phạt tù: Là người phải chịu biện pháp tước tự do, giam giữ tại trại giam, bệnh viện hoặc bất kỳ cơ sở giam giữ nào khác theo bản án có hiệu lực của Tòa án Bên chuyển giao.
- Hình phạt: Là hình phạt tù hoặc bất kỳ biện pháp tước tự do nào khác do Tòa án áp dụng.
- Mối quan hệ cộng đồng: Được xác định dựa trên nơi cư trú chính của phạm nhân ngay trước khi bị tuyên án; hoặc phạm nhân có cha mẹ, ông bà, con cái, vợ/chồng (kể cả quan hệ hôn nhân thực tế) cư trú chính tại Bên nhận; hoặc trong trường hợp đặc biệt, phạm nhân có mối liên hệ chặt chẽ, liên tục và gắn liền với lợi ích, phúc lợi của người cư trú tại Bên nhận.
Mục đích và Cơ quan trung ương thực thi
Hiệp định hướng tới việc tăng cường sự hợp tác rộng rãi nhất giữa hai quốc gia trong việc chuyển giao phạm nhân. Để đảm bảo việc thực thi hiệu quả, hai bên thành lập cơ chế liên lạc trực tiếp thông qua Cơ quan trung ương:
- Cơ quan trung ương của Việt Nam: Bộ Công an.
- Cơ quan trung ương của Ô-xtrây-lia: Bộ Tổng Chưởng lý Chính phủ Ô-xtrây-lia.
- Nhiệm vụ: Tiếp nhận, xử lý trực tiếp các yêu cầu chuyển giao, trao đổi thông tin và tham vấn lẫn nhau nhằm tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Hiệp định. Bất kỳ sự thay đổi nào về Cơ quan trung ương đều phải được thông báo chính thức cho Bên kia.
Điều kiện thực hiện chuyển giao phạm nhân
Một trường hợp chuyển giao chỉ được chấp nhận khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện khắt khe được quy định tại Điều 4 của Hiệp định:
- Tội phạm kép (Dual Criminality): Hành vi bị tuyên án phải cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật Bên nhận nếu hành vi đó được thực hiện trên lãnh thổ của Bên nhận. Quy định này có thể được miễn trong trường hợp đặc biệt nếu cả hai nước cùng đồng ý và pháp luật Bên nhận cho phép.
- Yêu cầu về quốc tịch và tư cách cư trú: Đối với Việt Nam là Bên nhận, người bị kết án bắt buộc phải có quốc tịch Việt Nam. Đối với Ô-xtrây-lia là Bên nhận, người đó phải có quốc tịch Ô-xtrây-lia hoặc được phép nhập cảnh, lưu trú không thời hạn tại Ô-xtrây-lia và có mối quan hệ cộng đồng với một bang hoặc lãnh thổ của Ô-xtrây-lia.
- Thời hạn còn lại của bản án: Vào thời điểm đưa ra yêu cầu chuyển giao, thời gian phạt tù còn lại mà phạm nhân phải chấp hành phải ít nhất là 01 năm. Điều kiện này có thể được linh hoạt miễn giảm theo thỏa thuận riêng giữa hai Bên.
- Tính chất chung thẩm của bản án: Bản án, quyết định hình sự phải là cuối cùng, không còn bất kỳ thủ tục tố tụng hay khiếu nại nào liên quan đến tội phạm đó (hoặc tội phạm khác) đang trong quá trình chờ xử lý tại Bên chuyển giao.
- Sự đồng ý của các bên liên quan: Bắt buộc phải có sự đồng ý của Bên chuyển giao, Bên nhận và chính người bị kết án (hoặc người đại diện hợp pháp nếu phạm nhân không đủ năng lực hành vi). Riêng trường hợp Ô-xtrây-lia là Bên chuyển giao hoặc Bên nhận, việc chuyển giao còn phải nhận được sự chấp thuận của chính quyền Bang hoặc Lãnh thổ liên quan.
- Nghĩa vụ tài chính: Phạm nhân phải được Bên nhận thông báo đầy đủ về các chi phí chuyển giao mà người đó có thể phải hoàn trả.
Trình tự, thủ tục chuyển giao và Xác minh sự tự nguyện
Quy trình chuyển giao người bị kết án phạt tù tuân thủ trình tự pháp lý chặt chẽ:
- Khởi nguồn yêu cầu: Phạm nhân có thể chủ động trình bày nguyện vọng chuyển giao cho Bên chuyển giao hoặc Bên nhận. Yêu cầu chuyển giao chính thức do Cơ quan trung ương của một trong hai bên lập bằng văn bản gửi cho bên kia, trong đó chứa đựng đầy đủ thông tin nhân thân và địa điểm giam giữ phạm nhân.
- Trách nhiệm cung cấp hồ sơ của Bên chuyển giao: Phải gửi cho Bên nhận bản tóm tắt diễn biến vụ án, văn bản pháp luật áp dụng, ngày kết thúc án tù, thời hạn đã chấp hành, các quyết định giảm án/khen thưởng (nếu có), bản sao bản án/quyết định của Tòa án, thông tin về các yêu cầu dẫn độ từ nước thứ ba, các báo cáo cải tạo, y tế, xã hội và khuyến nghị điều trị đối với phạm nhân.
- Trách nhiệm cung cấp hồ sơ của Bên nhận: Cung cấp văn bản xác nhận phạm nhân đáp ứng điều kiện quốc tịch/cư trú, trích dẫn quy định pháp luật xác nhận hành vi vi phạm cấu thành tội phạm tại Bên nhận, cùng văn bản mô tả cách thức sẽ thi hành bản án sau khi tiếp nhận.
- Bảo đảm sự đồng ý tự nguyện: Bên chuyển giao có trách nhiệm bảo đảm người bị kết án đồng ý chuyển giao trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và hiểu rõ toàn bộ hệ quả pháp lý. Bên nhận có quyền cử đại diện trực tiếp xác minh sự tự nguyện này trước khi việc bàn giao thực tế diễn ra.
- Địa điểm bàn giao: Do cơ quan có thẩm quyền hai bên thỏa thuận thống nhất trong phạm vi lãnh thổ của Bên chuyển giao.
Bảo lưu quyền tài phán và Nguyên tắc tiếp tục thi hành hình phạt
Hiệp định phân định rõ ranh giới thẩm quyền tài phán và nguyên tắc xử lý án sau chuyển giao:
- Quyền tài phán của Bên tuyên án: Bên chuyển giao duy trì quyền tài phán duy nhất đối với việc xem xét lại, sửa đổi, hủy bỏ bản án, quyết định đặc xá, ân xá hoặc giảm án đối với hình phạt mà Tòa án nước mình đã tuyên.
- Thực thi bản án tại Bên nhận: Bên nhận có nghĩa vụ tiếp tục thi hành bản án do Bên chuyển giao tuyên theo đúng trình tự và quy định pháp luật nội địa của Bên nhận.
- Chuyển đổi hình phạt: Trường hợp tính chất hoặc thời hạn của hình phạt không phù hợp với pháp luật của Bên nhận, Bên nhận có thể chuyển đổi hình phạt cho tương thích với quy định đối với tội phạm tương tự. Tuy nhiên, hình phạt chuyển đổi tuyệt đối không được nghiêm khắc hơn hình phạt ban đầu về cả tính chất lẫn thời hạn giam giữ, và phải dựa trên các tình tiết thực tế được nêu trong bản án của Bên chuyển giao.
- Xử lý người chưa thành niên: Nếu phạm nhân là người chưa thành niên theo pháp luật của Bên nhận, Bên nhận có quyền áp dụng các chế độ đối xử đặc thù dành cho người chưa thành niên bất kể tư cách pháp lý của người đó tại Bên chuyển giao.
- Cập nhật giảm án/tha tù: Ngay khi nhận được thông báo từ Bên chuyển giao về việc giảm án, ân xá hoặc đặc xá, Bên nhận phải lập tức thực hiện việc giảm thời hạn giam giữ hoặc tha tù cho phạm nhân.
Chi phí, Quá cảnh và Báo cáo thi hành án
Các nội dung tài chính, hậu cần và cơ chế thông tin báo cáo trong quá trình thi hành Hiệp định bao gồm:
- Phân định chi phí: Bên nhận chịu các chi phí phát sinh từ việc vận chuyển phạm nhân (trừ các chi phí diễn ra trên lãnh thổ Bên chuyển giao) và toàn bộ chi phí thi hành bản án sau khi đã tiếp nhận. Bên nhận được phép thu hồi một phần hoặc toàn bộ chi phí vận chuyển từ người bị kết án theo quy định pháp luật nội địa.
- Hỗ trợ quá cảnh: Khi một Bên thực hiện chuyển giao phạm nhân đến hoặc đi từ nước thứ ba, Bên kia có trách nhiệm hợp tác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc quá cảnh qua lãnh thổ của mình sau khi nhận được thông báo trước.
- Cung cấp thông tin thi hành án: Bên nhận phải kịp thời thông báo cho Bên chuyển giao khi: phạm nhân được tạm tha có điều kiện; bản án đã thi hành xong; phạm nhân trốn khỏi nơi giam giữ hoặc tử vong; hoặc khi Bên chuyển giao có văn bản yêu cầu báo cáo tiến độ.
Giải quyết tranh chấp, Phạm vi và Hiệu lực thi hành
Các quy định cuối cùng đảm bảo tính hiệu lực và vận hành ổn định của Hiệp định:
- Ngôn ngữ sử dụng: Mọi yêu cầu chuyển giao và tài liệu kèm theo bắt buộc phải có bản dịch sang ngôn ngữ chính thức của Bên nhận.
- Giải quyết tranh chấp: Mọi vướng mắc phát sinh từ việc giải thích hoặc áp dụng Hiệp định trước hết được giải quyết thông qua thương lượng giữa hai Cơ quan trung ương. Nếu không đạt được sự thống nhất, tranh chấp sẽ được giải quyết qua đường ngoại giao.
- Phạm vi áp dụng thời gian và không gian: Hiệp định áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ của Việt Nam và Úc. Hiệp định có giá trị áp dụng đối với các yêu cầu chuyển giao đưa ra sau khi Hiệp định có hiệu lực, bao gồm cả các trường hợp mà bản án phạt tù đã được tuyên trước ngày Hiệp định bắt đầu phát sinh hiệu lực.
- Hiệu lực và Chấm dứt: Hiệp định chính thức có hiệu lực sau 30 ngày kể từ ngày hai bên hoàn tất việc thông báo cho nhau bằng văn bản về việc đã hoàn thành các thủ tục nội bộ. Mỗi Bên có quyền đơn phương chấm dứt Hiệp định bằng cách gửi thông báo bằng văn bản, và Hiệp định sẽ hết hiệu lực sau 06 tháng kể từ ngày Bên kia nhận được thông báo đó.
GIỮA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VÀ Ô-XTRÂY-LIA VỀ CHUYỂN GIAO NGƯỜI BỊ KẾT ÁN PHẠT TÙ
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ô-xtrây-lia (sau đây gọi là “các Bên”);
Có tính đến các luật và quy định hiện hành về thực thi pháp luật của các Bên và mong muốn tăng cường các nỗ lực hợp tác trong lĩnh vực thi hành pháp luật và hoạt động tư pháp;
Mong muốn hợp tác trong lĩnh vực chuyển giao người bị kết án phạt tù nhằm tạo thuận lợi cho họ tái hòa nhập thành công vào xã hội, và
Mong muốn hợp tác trong việc thi hành các bản án hình sự;
Đã thỏa thuận như sau:
Trong Hiệp định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
(a) “Bên chuyển giao” là Bên mà từ đó người bị kết án có thể hoặc đã được chuyển giao;
(b) “Bên nhận” là Bên mà người bị kết án có thể hoặc đã được chuyển giao đến;
(c) “Người bị kết án phạt tù” là người phải bị giam giữ trong trại giam, bệnh viện hoặc bất cứ nơi nào khác trên lãnh thổ của Bên chuyển giao để chấp hành bản án do Toà án của Bên chuyển giao tuyên;
(d) “Hình phạt” là sự trừng phạt hoặc biện pháp tước tự do khác do Tòa án áp dụng; và
(e) “Lãnh thổ”;
(i) Đối với Việt Nam: là lãnh thổ của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; và
(ii) Đối với Ô-xtrây-lia: là tất cả các bang và các vùng lãnh thổ của Ô-xtrây-lia.
(f) “Mối quan hệ cộng đồng” là:
(i) Nơi cư trú chính của phạm nhân trên lãnh thổ Bên nhận ngay trước khi người đó bị tuyên hình phạt tù trên lãnh thổ của Bên chuyển giao; hoặc
(ii) Cha mẹ, ông bà hoặc con cái của phạm nhân đó có nơi cư trú chính trên lãnh thổ của Bên nhận; hoặc
(iii) Phạm nhân đó đã kết hôn hoặc có quan hệ hôn nhân thực tế với người có nơi cư trú chính trên lãnh thổ của Bên nhận; hoặc
(iv) Trong trường hợp đặc biệt, phạm nhân đó có mối quan hệ chặt chẽ và liên tục (liên lạc cá nhân một cách thường xuyên và lợi ích cá nhân liên quan đến phúc lợi của người khác) với người có nơi cư trú chính trên lãnh thổ của Bên nhận.
ĐIỀU 2. MỤC ĐÍCH CỦA HIỆP ĐỊNH
(1) Các Bên cam kết dành cho nhau sự hợp tác rộng rãi nhất trong việc chuyển giao người bị kết án phạt tù theo các quy định của Hiệp định này.
(2) Người bị kết án phạt tù có thể được chuyển giao từ lãnh thổ của Bên chuyển giao đến lãnh thổ của Bên nhận theo các quy định của Hiệp định này để chấp hành hình phạt đã tuyên đối với người đó.
(1) Cơ quan trung ương của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Bộ Công an; Cơ quan trung ương của Ô-xtrây-lia là Bộ Tổng Chưởng lý Chính phủ Ô-xtrây-lia. Bên ký kết có thể thay đổi Cơ quan trung ương của mình nhưng phải thông báo cho Bên kia về sự thay đổi đó.
(2) Các Cơ quan trung ương phải xử lý các yêu cầu chuyển giao theo các quy định của Hiệp định này.
(3) Các Cơ quan trung ương có thể liên hệ trực tiếp với nhau khi thực hiện Hiệp định này.
Người bị kết án phạt tù chỉ có thể được chuyển giao theo Hiệp định này với các điều kiện sau đây:
(a) Hành động hoặc không hành động đã bị tuyên hình phạt cấu thành một tội phạm theo pháp luật Bên nhận, hoặc sẽ cấu thành tội phạm đó nếu như được thực hiện trong phạm vi quyền tài phán của Bên nhận. Điều kiện này có thể được miễn trong trường hợp đặc biệt nếu cả hai Bên đồng ý và trong phạm vi pháp luật của Bên nhận cho phép;
(b) Khi Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Bên nhận thì người đó phải là công dân Việt Nam;
(c) Khi Ô-xtrây-lia là Bên nhận thì người bị kết án phạt tù là:
(i) Người có quốc tịch Ô-xtrây-lia; hoặc
(ii) Người được phép đến, nhập cảnh và lưu lại không thời hạn tại Ô-xtrây-lia theo quy định của pháp luật Ô-xtrây-lia và có mối quan hệ cộng đồng với một bang hoặc lãnh thổ của Ô-xtrây-Iia;
(d) Vào thời điểm yêu cầu chuyển giao, người bị kết án phạt tù còn ít nhất một năm phải chấp hành hình phạt tù. Điều kiện này có thể được miễn theo thỏa thuận của các Bên;
(e) Phán quyết đó là cuối cùng và không còn bất kỳ thủ tục tố tụng nào liên quan đến tội phạm đó hoặc bất kỳ tội phạm nào khác đang chờ được tiến hành trên lãnh thổ của Bên chuyển giao;
(f) Bên chuyển giao và Bên nhận và người bị kết án đều đồng ý với việc chuyển giao. Trong trường hợp người bị kết án phạt tù không đủ năng lực để đồng ý theo pháp luật Bên chuyển giao thì phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp của người đó;
(g) Khi Ô-xtrây-lia là Bên chuyển giao và khi người bị kết án phạt tù chấp hành bản án theo pháp luật của một bang hoặc lãnh thổ của Ô-xtrây-lia thì chính quyền bang hoặc lãnh thổ đó phải đồng ý với việc chuyển giao;
(h) Khi Ô-xtrây-Iia là Bên nhận, chính quyền bang hoặc lãnh thổ của Ô-Xtrây-Iia nơi sẽ thi hành bản án phải đồng ý với việc chuyển giao;
(i) Người bị kết án phạt tù đã được Bên nhận thông báo đầy đủ về các chi phí của việc chuyển giao mà Bên nhận có thể thu lại chi phí từ người bị kết án phạt tù theo quy định tại Điều 12 (2).
(1) Các Bên phải thông báo cho người bị kết án phạt tù về nội dung của Hiệp định này.
(2)
(a) Nếu người bị kết án phạt tù có nguyện vọng được chuyển giao thì có thể trình bày nguyện vọng đó cho Bên chuyển giao hoặc Bên nhận, một trong hai Bên phải thông báo việc này cho Bên kia bằng văn bản.
(b) Yêu cầu chuyển giao có thể do Bên chuyển giao hoặc Bên nhận đưa ra.
(c) Yêu cầu chuyển giao phải được lập thành văn bản và bao gồm các nội dung sau đây:
(i) Họ tên, ngày, tháng, năm sinh và nơi sinh của người bị kết án phạt tù;
(ii) Quốc tịch hoặc tình trạng cư trú của người bị kết án phạt tù; và
(iii) Địa điểm và địa chỉ hiện nay của người bị kết án phạt tù.
(3) Khi có yêu cầu chuyển giao, Bên chuyển giao phải cung cấp cho Bên nhận những thông tin sau đây:
(a) Một bản báo cáo về sự việc là căn cứ cho việc kết án và tuyên hình phạt và luật hiện hành quy định về tội phạm đó;
(b) Ngày kết thúc hình phạt, nếu có, và thời gian người bị kết án đã chấp hành hình phạt và bất kỳ quyết định nào về việc giảm án mà người bị kết án được hưởng căn cứ vào thành tích lao động, hạnh kiểm tốt, thời gian giam giữ trước khi xét xử hoặc lý do khác;
(c) Một bản sao giấy chứng nhận hoặc biên bản về việc kết án và hình phạt và, nếu có, bản sao các phán quyết và nhận xét về hình phạt;
(d) Chi tiết về yêu cầu dẫn độ người bị kết án phạt tù đã được gửi đến Bên chuyển giao hoặc về bất cứ quốc gia nào đã thể hiện sự quan tâm đến việc dẫn độ người bị kết án hoặc theo ý kiến của Bên chuyển giao thì quốc gia đó chắc chắn sẽ yêu cầu dẫn độ;
(e) Các báo cáo về vấn đề cải tạo, y tế hay xã hội liên quan đến người bị kết án phạt tù, thông tin về quá trình điều trị của người bị kết án phạt tù tại Bên chuyển giao, và khuyến nghị về việc tiếp tục điều trị người đó tại Bên nhận, nếu có; và
(f) Các thông tin bổ sung khác do Bên nhận yêu cầu.
(4) Nếu có yêu cầu của Bên chuyển giao, Bên nhận phải cung cấp cho Bên chuyển giao những thông tin sau đây trước khi chuyển giao:
(a) Một tài liệu hay tuyên bố nêu rõ người bị kết án phạt tù đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu tại Điều 4 (b) hoặc 4 (c);
(b) Bản tuyên bố về hành động hoặc không hành động đã bị tuyên hình phạt cấu thành tội phạm theo pháp luật của Bên nhận hoặc sẽ cấu thành tội phạm nếu như được thực hiện trên lãnh thổ của Bên nhận. Hoặc là một tuyên bố về việc Bên nhận từ bỏ yêu cầu này theo quy định của pháp luật nước đó;
(c) Bản mô tả cách thức mà Bên nhận sẽ thi hành hình phạt đã tuyên đối với người bị kết án phạt tù; và
(d) Các thông tin bổ sung khác.
(5) Nếu có yêu cầu, các Bên phải cung cấp cho nhau tối đa thông tin, tài liệu, văn bản có liên quan trước khi gửi yêu cầu chuyển giao hoặc quyết định có đồng ý với việc chuyển giao hay không.
(6) Cơ quan có thẩm quyền của Bên chuyển giao sẽ giao người bị kết án phạt tù cho cơ quan có thẩm quyền của Bên nhận vào thời gian và địa điểm trong phạm vi lãnh thổ của Bên chuyển giao theo thỏa thuận giữa hai Bên.
ĐIỀU 6. SỰ ĐỒNG Ý CỦA NGƯỜI BỊ KẾT ÁN
(1) Bên chuyển giao phải bảo đảm rằng người bị kết án phạt tù đồng ý với việc chuyển giao một cách tự nguyện và với nhận thức đầy đủ về những hệ quả pháp lý của việc chuyển giao. Thủ tục thể hiện sự đồng ý sẽ do pháp luật của Bên chuyển giao quy định.
(2) Nếu Bên nhận mong muốn, trước khi chuyển giao, Bên chuyển giao phải tạo điều kiện cho Bên nhận xác minh sự đồng ý của người bị kết án về việc chuyển giao nói tại Điều 4 (f) là tự nguyện với sự hiểu biết đầy đủ về hệ quả pháp lý của việc này thông qua một quan chức do Bên nhận chỉ định.
ĐIỀU 7. BẢO LƯU QUYỀN TÀI PHÁN
Bên chuyển giao bảo lưu quyền tài phán đối với việc xem xét lại, sửa đổi, huỷ bỏ, ân xá, đặc xá hoặc giảm án và hình phạt mà Tòa án nước mình đã tuyên.
ĐIỀU 8. TIẾP TỤC THI HÀNH HÌNH PHẠT
(1) Bên nhận phải thi hành hình phạt được tuyên ở Bên chuyển giao.
(2) Việc tiếp tục thi hành hình phạt sau khi chuyển giao quy định tại Điều 8 (3) dưới đây phải theo quy định của pháp luật và trình tự của Bên nhận.
(3) Nếu tính chất hoặc thời hạn của hình phạt đó không tương thích với pháp luật của Bên nhận thì Bên nhận có thể chuyển đổi hình phạt đó cho phù hợp với hình phạt mà pháp luật của mình quy định đối với tội phạm tương tự. Khi chuyển đổi hình phạt, cơ quan có thẩm quyền của Bên nhận phải căn cứ vào các kết luận về sự kiện của vụ án được thể hiện trong các ý kiến, bản luận tội, phán quyết hoặc hình phạt đã được Bên chuyển giao tuyên. Hình phạt chuyển đổi không được nghiêm khắc hơn hình phạt mà Bên chuyển giao đã tuyên về tính chất và thời hạn.
(4) Nếu người bị kết án phạt tù là người chưa thành niên theo pháp luật của Bên nhận thì Bên nhận có thể đối xử với người đó như một người chưa thành niên bất kể người đó có thân phận gì theo pháp luật của Bên chuyển giao.
(5) Sau khi người bị kết án phạt tù được chuyển giao, Bên nhận thực hiện việc giảm án hoặc tha tù cho người bị kết án ngay sau khi nhận được thông báo về quyết định của Bên chuyển giao theo quy định tại Điều 7.
(6) Các Bên thông báo cho người bị kết án bằng văn bản về bất kỳ hành động hoặc quyết định của Bên chuyển giao hay của Bên nhận theo quy định tại khoản (2) đến khoản (5) Điều này.
ĐIỀU 9. THÔNG TIN VỀ VIỆC THI HÀNH HÌNH PHẠT
Bên nhận cung cấp các thông tin liên quan đến việc thi hành hình phạt cho Bên chuyển giao trong các trường hợp sau đây:
(a) Người bị kết án phạt tù được tạm tha có điều kiện;
(b) Khi Bên nhận cho rằng việc thi hành hình phạt đã kết thúc;
(c) Người bị kết án phạt tù bỏ trốn khỏi nơi giam giữ hoặc chết trước khi chấp hành xong hình phạt;
(d) Bên chuyển giao yêu cầu một bản báo cáo.
ĐIỀU 10. QUÁ CẢNH NGƯỜI BỊ KẾT ÁN
Nếu một trong hai Bên chuyển người bị kết án phạt tù đến hoặc từ một địa điểm bên ngoài lãnh thổ của mình, Bên kia phải, phù hợp với pháp luật của mình, hợp tác để tạo thuận lợi cho việc quá cảnh người bị kết án qua lãnh thổ của mình. Bên có ý định thực hiện việc di chuyển phải thông báo trước cho Bên kia về việc quá cảnh này.
Yêu cầu chuyển giao và các tài liệu liên quan phải kèm theo bản dịch sang ngôn ngữ chính thức của Bên nhận.
(1) Bên nhận phải chịu các chi phí sau đây:
(a) Chuyển giao người bị kết án phạt tù, trừ chi phí phát sinh trên lãnh thổ của Bên chuyển giao; và
(b) Tiếp tục thi hành bản án sau khi chuyển giao.
(2) Tuy nhiên, Bên nhận có thể tìm cách thu hồi toàn bộ hay một phần chi phí chuyển giao từ người bị kết án phạt tù.
Cơ quan trung ương của các Bên ký kết có thể tham vấn nhau để nâng cao hiệu quả áp dụng của Hiệp định này và đồng ý về các biện pháp thực tiễn cần thiết để tạo thuận lợi cho việc thực hiện Hiệp định này.
ĐIỀU 14. GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
(1) Mọi tranh chấp phát sinh từ việc giải thích, áp dụng hoặc thực hiện Hiệp định này được giải quyết thông qua Cơ quan trung ương.
(2) Nếu các Cơ quan trung ương không giải quyết được tranh chấp theo quy định tại Điều 14 (1), các Bên có thể giải quyết tranh chấp thông qua đường ngoại giao.
Hiệp định này được áp dụng trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và lãnh thổ Ô-xtrây-lia.
16. NGÀY CÓ HIỆU LỰC VÀ VIỆC CHẤM DỨT HIỆU LỰC
(1) Hiệp định này có hiệu lực sau ba mươi ngày kể từ ngày các Bên thông báo cho nhau bằng văn bản về việc yêu cầu của mỗi Bên để Hiệp định có hiệu lực đã được tuân thủ.
(2) Hiệp định này được áp dụng đối với yêu cầu chuyển giao đưa ra sau khi Hiệp định này có hiệu lực, kể cả trong trường hợp hình phạt đã được tuyên trước ngày Hiệp định này có hiệu lực.
(3) Mỗi Bên đều có thể chấm dứt Hiệp định này bất cứ lúc nào bằng cách thông báo bằng văn bản cho Bên kia. Trong trường hợp này, Hiệp định chấm dứt hiệu lực sau sáu tháng kể từ ngày nhận được thông báo.
Để làm bằng, những người ký tên dưới đây, được sự ủy quyền đầy đủ của Nhà nước mình, đã ký Hiệp định này.
Được làm thành hai bản tại Can-bê-ra, ngày 13 tháng 10 năm 2008 bằng tiếng Anh và tiếng Việt, các bản có giá trị như nhau.
| THAY MẶT CỘNG HÒA XÃ HỘI | THAY MẶT Ô-XTRÂY-LIA |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.