Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Quy định tách thửa đất nông nghiệp
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Luật nghĩa vụ quân sự năm 1960 được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá thứ nhất, kỳ họp thứ 12 thông qua ngày 15 tháng 4 năm 1960 và được Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh ban hành. Đây là văn bản pháp lý đặt nền móng cho chế độ nghĩa vụ quân sự hiện đại, xác định nghĩa vụ quân sự là bổn phận vẻ vang của công dân đối với Tổ quốc nhằm bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh.

Phạm vi và đối tượng áp dụng của Luật nghĩa vụ quân sự 1960

Luật quy định nghĩa vụ quân sự áp dụng bắt buộc đối với mọi công dân nam giới từ đủ mười tám tuổi đến bốn mươi lăm tuổi, không phân biệt dân tộc, nghề nghiệp, tôn giáo, tín ngưỡng, thành phần xã hội và trình độ văn hoá. Bên cạnh đó, luật cũng điều chỉnh đối với phụ nữ trong độ tuổi từ mười tám đến bốn mươi lăm tuổi có chuyên môn kỹ thuật cần thiết cho quân đội.

Các nội dung cốt lõi của Luật nghĩa vụ quân sự 1960

- Phân loại ngạch nghĩa vụ quân sự và cấp bậc quân hàm

  • Nghĩa vụ quân sự được chia làm hai ngạch rõ rệt: ngạch tại ngũ (phục vụ trong quân đội thường trực) và ngạch dự bị (tham gia lực lượng quân dự bị).
  • Quân nhân tại ngũ và dự bị bao gồm sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ. Trong đó, hạ sĩ quan gồm các cấp bậc: thượng sĩ, trung sĩ, hạ sĩ; binh sĩ gồm các cấp bậc: binh nhất, binh nhì.
  • Hạ sĩ quan và binh sĩ khi chuyển sang ngạch dự bị vẫn được giữ nguyên cấp bậc quân hàm cũ.
  • Đối tượng không được làm nghĩa vụ quân sự bao gồm: những người bị Toà án hoặc pháp luật tước quyền công dân; những người đang trong thời gian bị giam giữ hoặc bị quản chế.

- Thời hạn phục vụ tại ngũ và độ tuổi tuyển quân

  • Độ tuổi tuyển chọn công dân vào quân đội thường trực trong thời bình được ấn định từ mười tám đến hai mươi lăm tuổi. Trong thời chiến, lứa tuổi tuyển quân sẽ do Hội đồng quốc phòng quyết định cụ thể.
  • Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ được phân định theo từng lực lượng:
    • Bộ bộ lục quân: Thời hạn phục vụ là hai năm.
    • Bộ đội không quân, hạ sĩ quan và binh sĩ kỹ thuật thuộc lục quân, công an nhân dân vũ trang: Thời hạn phục vụ là ba năm.
    • Bộ đội hải quân: Thời hạn phục vụ là bốn năm.
  • Quân nhân có thể được điều động linh hoạt giữa các quân chủng, binh chủng; thời gian đã phục vụ ở đơn vị cũ được tính gộp vào thời hạn phục vụ ở đơn vị mới.
  • Hạ sĩ quan và binh sĩ khi hết hạn phục vụ tại ngũ có thể tự nguyện đăng ký phục vụ thêm một thời hạn tối thiểu là một năm.
  • Đối với quân nhân tình nguyện trước đây, luật quy định sẽ thực hiện phục viên dần dần để chuyển sang ngạch dự bị hoặc giải ngạch nghĩa vụ quân sự.

- Chế độ đăng ký, thống kê và quản lý nghĩa vụ quân sự

  • Hàng năm, vào khoảng năm ngày đầu tháng giêng dương lịch, công dân nam giới đủ mười tám tuổi phải trực tiếp đến Uỷ ban hành chính cấp xã, thị xã, thị trấn hoặc khu phố nơi cư trú để kiểm tra sức khỏe sơ bộ và đăng ký nghĩa vụ quân sự.
  • Phụ nữ từ mười tám đến bốn mươi lăm tuổi có chuyên môn kỹ thuật cần cho quân đội cũng phải thực hiện đăng ký nghĩa vụ quân sự theo quy định.
  • Quân nhân sau khi phục viên khi trở về địa phương hoặc nơi công tác phải đến ngay cơ quan quân sự địa phương để đăng ký vào ngạch dự bị.
  • Quân nhân dự bị là công nhân, viên chức được bảo đảm hưởng nguyên lương trong thời gian đi đăng ký nghĩa vụ quân sự.
  • Khi có sự thay đổi về sức khỏe, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, nơi làm việc hoặc nơi cư trú, quân nhân dự bị phải báo cáo Uỷ ban hành chính cấp cơ sở để điều chỉnh thông tin đăng ký hoặc xin giải ngạch nếu không còn đủ điều kiện.
  • Bộ Quốc phòng thống nhất lãnh đạo công tác đăng ký, thống kê và quản lý quân nhân dự bị trên phạm vi toàn quốc. Uỷ ban hành chính và cơ quan quân sự địa phương, cùng thủ trưởng các cơ quan, xí nghiệp, trường học có trách nhiệm phối hợp thực hiện nhiệm vụ này tại đơn vị, địa phương mình.

- Công tác tuyển binh, tạm hoãn và miễn gọi nhập ngũ

  • Hàng năm, Chính phủ căn cứ vào nhu cầu xây dựng lực lượng vũ trang và tình hình thực tế để quyết định chỉ tiêu tuyển quân và các biện pháp tổ chức thực hiện.
  • Thời gian tuyển binh được tiến hành mỗi năm một lần, thông thường từ ngày mồng 1 tháng 12 năm trước đến ngày 28 tháng 2 năm sau. Chính phủ có quyền thay đổi thời gian này trong trường hợp cần thiết.
  • Kể từ ngày công bố lệnh tuyển binh, công dân trong diện gọi nhập ngũ nếu muốn di chuyển chỗ ở sang địa phương khác phải được sự đồng ý của Uỷ ban hành chính cấp cơ sở nơi đang cư trú.
  • Công tác khám sức khỏe tuyển binh do Bộ Y tế chủ trì phối hợp với Bộ Quốc phòng xây dựng tiêu chuẩn và tổ chức thực hiện.
  • Chế độ tạm hoãn và miễn gọi nhập ngũ trong thời bình:
    • Tạm hoãn gọi nhập ngũ đến kỳ tuyển binh năm sau đối với người bị đau yếu, bệnh tật không thể đến trạm tuyển binh và được Uỷ ban hành chính cấp cơ sở xác nhận.
    • Miễn phục vụ tại ngũ đối với người là lao động duy nhất trực tiếp nuôi dưỡng gia đình hoặc là con một trong gia đình, do Uỷ ban hành chính cấp huyện (hoặc cấp tương đương) xem xét quyết định. Các trường hợp miễn, hoãn khác do Chính phủ quy định cụ thể.

- Huấn luyện quân sự đối với ngạch dự bị và học sinh, sinh viên

  • Quân nhân dự bị có nghĩa vụ tham gia huấn luyện quân sự hàng năm theo mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng. Thời gian huấn luyện cụ thể:
    • Sĩ quan dự bị: Huấn luyện hai mươi lăm ngày mỗi năm.
    • Hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị: Huấn luyện mười lăm ngày mỗi năm.
  • Chính phủ quy định chế độ trả lương cho công nhân, viên chức và các khoản trợ cấp, giúp đỡ đối với những người lao động khác khi phải thoát ly sản xuất để tham gia huấn luyện quân sự tập trung.
  • Đối với học sinh, sinh viên tại các trường đại học và trung học chuyên nghiệp, nội dung huấn luyện quân sự được lồng ghép trực tiếp vào chương trình giáo dục đào tạo theo quy định của Chính phủ.

- Chế độ động viên trong tình trạng khẩn cấp

  • Khi Chủ tịch nước công bố lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành các mệnh lệnh quân sự để triển khai thực hiện.
  • Khi có lệnh động viên:
    • Tất cả quân nhân tại ngũ, kể cả những người đã hết hạn phục vụ, đều phải tiếp tục ở lại đơn vị cho đến khi có lệnh thoái ngũ mới.
    • Mọi quân nhân dự bị nhận được lệnh gọi nhập ngũ phải tập trung đúng thời gian, địa điểm quy định.
  • Việc tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời chiến sẽ do Hội đồng quốc phòng quyết định tối cao.

- Quyền lợi, nghĩa vụ và chế độ chính sách đối với quân nhân

  • Quân nhân tại ngũ và dự bị được bảo đảm đầy đủ các quyền lợi và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp, đồng thời được hưởng các quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ đặc thù theo điều lệnh quân đội.
  • Quân nhân tại ngũ, dự bị và lực lượng dân quân tự vệ lập thành tích xuất sắc sẽ được khen thưởng huân chương, huy chương, danh hiệu vinh dự hoặc bằng khen.
  • Chế độ ưu đãi và trợ cấp xã hội:
    • Quân nhân tại ngũ bị tàn phế, mắc bệnh hoặc hy sinh khi làm nhiệm vụ thì bản thân và gia đình được hưởng các chế độ ưu đãi đặc biệt của Nhà nước.
    • Quân nhân dự bị, dân quân tự vệ bị thương hoặc hy sinh trong khi thực hiện nhiệm vụ quân sự cũng được hưởng các khoản trợ cấp tương xứng theo quy định của Chính phủ.
  • Mọi hành vi vi phạm các điều khoản của Luật này hoặc cản trở, phá hoại việc thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự đều bị xử lý nghiêm khắc theo quy định của pháp luật.

Hiệu lực thi hành

Luật nghĩa vụ quân sự năm 1960 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Tất cả các quy định, luật lệ trước đây trái với Luật này đều bị bãi bỏ. Chính phủ chịu trách nhiệm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này trên phạm vi toàn quốc.

SẮC LỆNH

SỐ 11/SL NGÀY 28-4-1960 CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ CÔNG BỐ LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

CÔNG BỐ LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ ĐÃ ĐƯỢC QUỐC HỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ KHOÁ THỨ NHẤT, KỲ HỌP THỨ 12, THÔNG QUA NGÀY 15 THÁNG 4 NĂM 1960. LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

Căn cứ vào Điều 42 của Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà quy định bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và cao quý nhất của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, và công dân có bổn phận làm nghĩa vụ quân sự để bảo vệ Tổ quốc;
Để củng cố quốc phòng, giữ gìn hoà bình, bảo vệ thành quả của cách mạng và sự nghiệp lao động hoà bình xây dựng chủ nghĩa xã hội;
Để phát huy truyền thống yêu nước của nhân dân, phát huy thắng lợi của chế độ tình nguyện tòng quân trước đây, nâng cao ý thức quốc phòng, phổ cập trí thức quân sự trong nhân dân;
Để đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang của nhân dân;
Nay quy định chế độ nghĩa vụ quân sự như sau:

Chương 1:

NGUYÊN TẮC CHUNG

Điều 1

Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đối với Tổ quốc.

Những công dân nam giới từ mưới tám đến bốn mươi lăm tuổi, không phân biệt dân tộc, nghề nghiệp, tôn giáo, tín ngưỡng, thành phần xã hội và trình độ văn hoá, đều có nghĩa vụ quân sự.

Điều 2

Không được làm nghĩa vụ quân sự:

- Những người bị Toà án hoặc pháp luật tước quyền công dân;

- Những người đang ở trong thời gian bị giam giữ hoặc bị quản chế.

Điều 3

Nghĩa vụ quân sự chia làm hai ngạch: tại ngũ và dự bị. Làm nghĩa vụ quân sự là tham gia quân đội thường trực hoặc tham gia quân dự bị.

Điều 4

Quân nhân tại ngũ và quân nhân dự bị gồm có sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ.

Hạ sĩ quan và binh sĩ gồm các cấp bậc sau đây:

- Hạ sĩ quan: thượng sĩ, trung sĩ, hạ sĩ.

- Binh sĩ: binh nhất, binh nhì.

Điều 5

Hạ sĩ quan và binh sĩ chuyển sang ngạch dự bị vẫn được giữ cấp bậc cũ.

Điều 6

Hạ sĩ quan và binh sĩ phục vụ trong ngạch dự bị đến hết bốn mươi lăm tuổi thì hết hạn làm nghĩa vụ quân sự.

Thời hạn phục vụ của sĩ quan theo như quy định trong luật về chế độ phục vụ của sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 4 năm 1958.

Điều 7

Lứa tuổi tuyển vào quân đội thường trực trong thời bình ấn định từ mười tám đến hai mươi lăm tuổi. Lứa tuổi tuyển vào quân đội thường trực trong thời chiến do Hội đồng quốc phòng ấn định.

Những người trong những lứa tuổi đó có thể lần lượt được gọi ra phục vụ tại ngũ.

Điều 8

Những quân nhân đang phục vụ theo chế độ tình nguyện sẽ dần dần được phục viên và chuyển sang dự bị hoặc giải ngạch nghĩa vụ quân sự.

Chương 2:

CHẾ ĐỘ PHỤC VỤ CỦA QUÂN NHÂN TẠI NGŨ VÀ QUÂN NHÂN DỰ BỊ

Điều 9

Sĩ quan tại ngũ và sĩ quan dự bị phục vụ theo chế độ quy định trong luật về chế độ phục vụ của sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 4 năm 1958, và những điều khoản có liên quan đến sĩ quan trong Luật này.

Điều 10

Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội lục quân là hai năm.

Đối với hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội không quân, hạ sĩ quan kỹ thuật và binh sĩ kỹ thuật trong bộ đội lục quân, hạ sĩ quan và binh sĩ công an nhân dân vũ trang, thì thời hạn phục vụ tại ngũ là ba năm.

Đối với hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội hải quân thì thời hạn phục vụ tại ngũ là bốn năm.

Điều 11

Hạ sĩ quan và binh sĩ tại ngũ có thể được điều động từ quân chủng, binh chủng này sang quân chủng, binh chủng khác; sang quân chủng, binh chủng nào thì theo thời hạn phục vụ ở quân chủng, binh chủng ấy. Thời gian đã phục vụ ở quân chủng, binh chủng, trước được tính vào thời hạn phục vụ ở quân chủng, binh chủng sau.

Điều 12

Hạ sĩ quan và binh sĩ đã hết hạn tại ngũ có thể tình nguyện đăng lại một thời hạn ít nhất là một năm.

Điều 13

Ngạch dự bị của hạ sĩ quan và binh sĩ chia làm hai hạng: dự bị hạng một và dự bị hạng hai.

Hạ sĩ quan và binh sĩ hết hạn phục vụ tại ngũ được xếp vào dự bị hạng một. Những công dân khác trong lứa tuổi làm nghĩa vụ quân sự được xếp vào dự bị hạng hai.

Điều 14

Hạ sĩ quan và binh sĩ tại ngũ bị bệnh, bị thương, bị tàn phế phế, không còn đủ sức khoẻ để tiếp tục phục vụ trong quân đội, sau khi được thủ trưởng đơn vị bộ đội có thẩm quyền chuẩn y, thì được thoái ngũ.

Điều 15

Những quân nhân dự bị hết hạn tuổi làm nghĩa vụ quân sự, hoặc bị bệnh, bị thương, bị tàn phế, không còn đủ sức khoẻ để làm nghĩa vụ quân sự, sau khi được cơ quan quân sự có thẩm quyền chuẩn y, thì được giải ngạch nghĩa vụ quân sự.

Chương 3:

ĐĂNG KÝ NGHĨA VỤ QUÂN SỰ, THỐNG KÊ VÀ QUẢN LÝ QUÂN NHÂN DỰ BỊ

Điều 16

Hàng năm vào khoảng năm ngày đầu tháng giêng dương lịch, những công dân nam giới đủ mười tám tuổi tính đến ngày mồng 1 tháng giêng dương lịch, phải đến Uỷ ban hành chính xã, thị xã, thị trấn, khu phố nơi mình ở để được kiểm tra sơ bộ thân thể và đăng ký nghĩa vụ quân sự.

Điều 17

Phụ nữ từ mười tám đến bốn mươi lăm tuổi có kỹ thuật chuyên môn cần cho quân đội cũng đăng ký nghĩa vụ quân sự.

Điều 18

Quân nhân phục viên khi về đến nơi ở hoặc nơi công tác phải đến cơ quan quân sự địa phương để đăng ký vào ngạch dự bị.

Điều 19

Quân nhân dự bị là công nhân, viên chức trong thời gian đi đăng ký nghĩa vụ quân sự vẫn được hưởng lương.

Điều 20

Những quân nhân dự bị khi hết hạn tuổi làm nghĩa vụ quân sự, khi không còn đủ sức khoẻ để tiếp tục làm nghĩa vụ quân sự, khi thay đổi trình độ văn hoá, nghề nghiệp, đơn vị công tác, chỗ ở, phải đến báo cáo với Uỷ ban hành chính xã, thị xã, thị trấn, khu phố nơi mình ở xin giải ngạch nghĩa vụ quân sự hoặc thay đổi đăng ký.

Điều 21

Bộ Quốc phòng lãnh đạo việc đăng ký, thống kê và quản lý quân nhân dự bị trong toàn quốc.

Dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban hành chính, cơ quan quân sự địa phương có nhiệm vụ tổ chức thực hiện việc đăng ký, thống kê và quản lý quân nhân dự bị trong địa phương mình.

Thủ trưởng các cơ quan, trường học, xí nghiệp, nông trường, công trường có nhiệm vụ tổ chức thực hiện việc đăng ký, thống kê quân nhân dự bị thuộc đơn vị mình theo sự hướng dẫn của các cơ quan quân sự địa phương.

Chương 4:

TUYỂN BINH

Điều 22

Hàng năm, căn cứ vào nhu cầu xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và tình hình của các địa phương, Chính phủ ấn định tổng số người cần tuyển vào quân đội thường trực và quyết định những biện pháp cần thiết để tiến hành việc tuyển binh.

Điều 23

Hàng năm tiến hành tuyển binh một lần vào khoảng thời gian từ mồng 1 tháng 12 năm trước đến ngày 28 tháng 2 năm sau. Trong trường hợp cần thiết Chính phủ có thể quyết định thay đổi thời gian tuyển binh.

Điều 24

Kể từ ngày công bố lệnh tuyển binh, những người trong lứa tuổi tuyển vào quân đội thường trực muốn thay đổi chỗ ở sang địa phương khác phải được Uỷ ban hành chính xã, thị xã, thị trấn, khu phố mình đang ở đồng ý.

Điều 25

Việc kiểm tra thân thể để tuyển binh do Bộ Y tế phụ trách theo tiêu chuẩn do Bộ Quốc phòng và Bộ Y tế quy định.

Điều 26

Những người trong lứa tuổi tuyển binh đã đăng ký nghĩa vụ quân sự, nếu bị đau yếu không thể đến trạm tuyển binh được và được Uỷ ban hành chính xã, thị xã, thị trấn, khu phố chứng nhận, thì có thể được hoãn đến kỳ tuyển binh năm sau.

Điều 27

Những người trong lứa tuổi tuyển binh đã đăng ký nghĩa vụ quân sự, nếu là người lao động duy nhất của gia đình, hoặc là con một, thì có thể được Uỷ ban hành chính huyện, thị xã, châu thuộc khu tự trị, quận và khu phố ở các thành phố trực thuộc Trung ương xét và cho miễn phục vụ tại ngũ.

Những trường hợp khác cần miễn hoặc hoãn gọi ra phục vụ tại ngũ sẽ do Chính phủ quy định.

Chương 5:

HUẤN LUYỆN QUÂN SỰ CHO QUÂN NHÂN DỰ BỊ

Điều 28

Sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị, hàng năm phải theo mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng mà tham gia huấn luyện quân sự.

Sĩ quan dự bị mỗi năm phải tham gia huấn luyện quân sự hai mươi lăm ngày.

Hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị mỗi năm phải tham gia huấn luyện quân sự mười lăm ngày.

Điều 29

Đối với quân nhân dự bị là công nhân, viên chức, Chính phủ sẽ quy định việc trả lương trong thời gian tham gia huấn luyện quân sự.

Đối với quân nhân dự bị không ở trong trường hợp nói trên, khi cần thoát ly sản xuất để tham gia huấn luyện quân sự tập trung, Chính phủ sẽ quy định việc giúp đỡ.

Điều 30

Đối với sinh viên, học sinh các trường đại học, các trường chuyên nghiệp trung cấp thì việc huấn luyện quân sự thuộc chương trình giáo dục do Chính phủ quy định.

Điều 31

Bộ Quốc phòng lãnh đạo việc huấn luyện quân sự cho quân nhân dự bị trong toàn quốc.

Dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban hành chính, cơ quan quân sự địa phương có nhiệm vụ tổ chức thực hiện việc huấn luyện quân sự cho quân nhân dự bị trong địa phương mình.

Thủ trưởng các cơ quan, trường học, xí nghiệp, nông trường, công trường có nhiệm vụ tổ chức việc huấn luyện quân sự cho quân nhân dự bị thuộc đơn vị mình theo sự hướng dẫn của các cơ quan quân sự địa phương.

Chương 6:

ĐỘNG VIÊN THỜI CHIẾN

Điều 32

Sau khi Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà công bố lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ra các mệnh lệnh cần thiết để thực hiện.

Điều 33

Sau khi lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ được công bố:

- Tất cả những quân nhân dù sắp hết hạn tại ngũ đều phải ở lại quân đội cho đến khi có mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng cho thoái ngũ.

- Tất cả quân nhân dự bị khi nhận được mệnh lệnh gọi ra phục vụ tại ngũ phải có mặt đúng ngày, đúng giờ, ở địa điểm đã định.

Điều 34

Việc hoãn gọi ra phục vụ tại ngũ trong thời chiến do Hội đồng quốc phòng quyết định.

Chương 7:

QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ CỦA QUÂN NHÂN TẠI NGŨ VÀ QUÂN DÂN DỰ BỊ

Điều 35

Quân nhân tại ngũ và quân nhân dự bị có tất cả mọi quyền lợi và nghĩa vụ của người công dân quy định trong Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Quân nhân còn có những quyền lợi và nghĩa vụ khác quy định trong luật này và trong các điều lệnh và chế độ của quân đội.

Điều 36

Quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị và dân quân, tự vệ lập được công trạng sẽ được tặng thưởng huân chương, danh hiệu vinh dự, huy chương, bằng khen.

Điều 37

Những sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị có nhiều thành tích trong huấn luyện quân sự, hoặc trong công tác bảo vệ an ninh, củng cố quốc phòng, có thể được thăng, thưởng.

Điều 38

Quân nhân tại ngũ bị tàn phế, bị bệnh chết, hoặc hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, thì bản thân hoặc gia đình được hưởng chế độ ưu đãi do Chính phủ định.

Điều 39

Quân nhân dự bị, dân quân, tự vệ bị thương hoặc hy sinh trong khi làm nhiệm vụ quân sự thì bản thân hoặc gia đình được hưởng một khoản trợ cấp do Chính phủ định.

Chương 8:

ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 40

Những hành vi vi phạm các điều khoản trong luật này và những hành vi làm cản trở hoặc phá hoại việc thi hành chế độ nghĩa vụ quân sự sẽ tuỳ từng trường hợp mà bị trừng trị theo pháp luật.

Điều 41

Những điều khoản trong các luật lệ ban hành trước đây trái với luật này đều bãi bỏ.

Điều 42

Chính phủ quy định chi tiết thi hành luật này.

Luật này đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá thứ nhất, kỳ họp thứ 12, thông qua trong phiên họp ngày 15 tháng 4 năm 1960.

Hồ Chí Minh

(Đã ký)

Văn bản liên quan cùng nội dung
Văn bản liên quan nội dung
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Luật nghĩa vụ quân sự 1960

Số hiệu: 11/SL
Loại văn bản: Luật
Ngày ban hành: 28/04/1960
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Hồ Chí Minh
Ngày công báo: 11/05/1960
Số công báo: Số 19
Ngày hiệu lực: 28/04/1960
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Bộ máy hành chính
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Luật nghĩa vụ quân sự 1960?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký