Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Luật về quyền lập hội được ban hành năm 1957 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố, nhằm mục đích tôn trọng, bảo đảm quyền lập hội của nhân dân và góp phần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân tại Việt Nam.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Luật quy định quyền lập hội áp dụng đối với mọi công dân, ngoại trừ những người bị mất quyền công dân hoặc đang bị truy tố trước pháp luật. Đồng thời, Luật cũng loại trừ một số đối tượng không thuộc phạm vi điều chỉnh bao gồm:

  • Các đoàn thể dân chủ và các đoàn thể nhân dân đã tham gia Mặt trận dân tộc thống nhất trong thời kỳ kháng chiến, được Quốc hội và Chính phủ công nhận.
  • Các hội hoạt động vì mục đích kinh tế.

Các nội dung cốt lõi của Luật về quyền lập hội 1957

1. Nguyên tắc và điều kiện thành lập hội

  • Mục đích lập hội: Việc lập hội phải có mục đích chính đáng, phù hợp với lợi ích của nhân dân, có tác dụng đoàn kết nhân dân để góp phần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân.
  • Quyền tự do tham gia: Mọi người có quyền tự do vào hội đã được thành lập hợp pháp và tự do ra khỏi hội. Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm quyền lập hội cũng như quyền tự do vào, ra hội của người khác.
  • Thủ tục xin phép: Để bảo đảm mục đích chính đáng và bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, việc lập hội bắt buộc phải xin phép. Thể lệ lập hội chi tiết do Chính phủ quy định.
  • Quy định đối với hội cũ: Những hội đã thành lập trước ngày ban hành Luật này và từng hoạt động trong vùng tạm bị chiếm trong thời kỳ kháng chiến, nếu muốn tiếp tục hoạt động thì bắt buộc phải thực hiện thủ tục xin phép lại.

2. Quy chế hoạt động của hội hợp pháp

  • Hội được thành lập hợp pháp phải hoạt động theo đúng điều lệ của hội và tuân thủ các luật lệ hiện hành.
  • Hội có quyền thu hội phí của hội viên, thực hiện các giao dịch mua bán, đổi chác tài sản cần thiết phục vụ cho hoạt động của hội, và có quyền thưa kiện trước tòa án.
  • Người chịu trách nhiệm chính của hội trước pháp luật là những người sáng lập hoặc các ủy viên trong ban chấp hành của hội.

3. Chế tài xử lý vi phạm pháp luật về lập hội

Luật quy định các hình thức xử lý nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm quy định về lập hội, cụ thể như sau:

  • Vi phạm quy định về thành lập và hoạt động: Người có trách nhiệm vi phạm các quy định về xin phép, hoạt động theo điều lệ (Điều 3, 4, 5) sẽ bị cảnh cáo hoặc truy tố trước tòa án với hình phạt tiền từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng và phạt tù từ 1 tháng đến 1 năm (hoặc áp dụng một trong hai hình phạt). Hội vi phạm có thể bị giải tán và tịch thu tài sản.
  • Tiếp tục hoạt động trái phép: Trường hợp hội đã bị giải tán nhưng vẫn tiếp tục hoạt động hoặc tổ chức lại một cách bất hợp pháp, người chịu trách nhiệm sẽ bị truy tố với mức phạt tiền từ 200.000 đồng đến 1.000.000 đồng và phạt tù từ 1 tháng đến 2 năm (hoặc áp dụng một trong hai hình phạt); hội tiếp tục bị giải tán và tịch thu tài sản.
  • Xâm phạm quyền tự do lập hội: Người nào có hành vi xâm phạm đến quyền lập hội hoặc quyền tự do vào, ra hội của người khác sẽ bị cảnh cáo hoặc truy tố trước tòa án với hình phạt tù từ 1 tháng đến 1 năm.
  • Lợi dụng quyền lập hội để hoạt động phá hoại: Nghiêm cấm việc lợi dụng quyền lập hội để hoạt động gây nguy hại đến lợi ích nước nhà và nhân dân (như chống pháp luật, chống lại chế độ, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, chia rẽ dân tộc, gây hại thuần phong mỹ tục, phá hoại sự nghiệp đấu tranh hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ của Tổ quốc, phá hoại tình hữu nghị quốc tế hoặc tuyên truyền chiến tranh). Người vi phạm sẽ bị truy tố và xử phạt theo luật pháp hiện hành, hội sẽ bị giải tán và tịch thu tài sản.

Hiệu lực thi hành

Luật về quyền lập hội 1957 có hiệu lực bãi bỏ tất cả các luật lệ trước đây trái với tinh thần và quy định của Luật này. Chính phủ chịu trách nhiệm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều khoản của Luật.

SẮC LỆNH

LUẬT SỐ 102-SL/L-004 NGÀY 20-5-1957 QUY ĐỊNH QUYỀN LẬP HỘI

CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

RA SẮC LỆNH :

Nay ban bố luật quy định quyền lập hội đã được Quốc hội biểu quyết trong khoá họp thứ VI như sau:

LUẬT

QUY ĐỊNH QUYỀN LẬP HỘI

Điều 1.

Quyền lập hội của nhân dân được tôn trọng và bảo đảm. Lập hội phải có mục đích chính đáng, phù hợp với lợi ích nhân dân, có tác dụng đoàn kết nhân dân, để góp phần xây dựng chế độ dân chủ nhân dân của nước ta.

Điều 2.

Mọi người đều có quyền lập hội, trừ những người mất quyền công dân hoặc đang bị truy tố trước pháp luật.

Mọi người có quyền tự do vào hội thành lập hợp pháp, và có quyền tự do ra hội.

Không ai được xâm phạm quyền lập hội và quyền tự do vào hội, ra hội của người khác.

Điều 3.

Để bảo đảm việc lập hội có mục đích chính đáng, bảo vệ và củng cố chế độ dân chủ nhân dân, lập hội phải xin phép.

Thể lệ lập hội sẽ do Chính phủ quy định.

Điều 4.

Những hội đã thành lập trước ngày ban hành luật này và đã hoạt động trong vùng tạm bị chiếm trong thời kỳ kháng chiến, nay muốn tiếp tục hoạt động, đều phải xin phép lại.

Điều 5.

Hội thành lập hợp pháp phải hoạt động theo đúng điều lệ của hội và theo đúng các luật lệ hiện hành, được phép thu hội phí của hội viên, mua bán đổi chác tài sản cần thiết cho sự hoạt động của hội và thưa kiện trước toà án.

Những người chịu trách nhiệm chính của hội, tuỳ trường hợp, là những người sáng lập hay là những uỷ viên ban chấp hành của hội.

Điều 6.

Nếu vi phạm những điều 3, 4 và 5 trên đây thì tuỳ theo trường hợp nặng nhẹ, những người có trách nhiệm sẽ bị cảnh cáo hay là bị truy tố trước toà án, và hội có thể bị giải tán, tài sản của hội có thể bị tịch thu.

Trường hợp bị truy tố trước toà án, những người có trách nhiệm sẽ bị phạt tiền từ mười vạn đồng (100.000 đ) đến năm mươi vạn đồng (500.000 đ) và phạt tù từ một tháng đến một năm, hoặc một trong hai hình phạt ấy.

Trường hợp hội đã bị giải tán mà vẫn cứ tiếp tục hoạt động hoặc tổ chức lại một cách không hợp pháp, thì những người có trách nhiệm sẽ bị truy tố trước toà án và sẽ bị xử phạt tiền từ hai mươi vạn đồng (200.000 đ) đến một triệu đồng (1.000.000 đ) và phạt tù từ một tháng đến hai năm, hoặc một trong hai hình phạt ấy, hội sẽ bị giải tán, tài sản của hội sẽ bị tịch thu.

Điều 7.

Người nào xâm phạm đến quyền lập hội hoặc đến quyền tự do vào hội, ra hội của người khác có thể bị cảnh cáo hoặc bị truy tố trước toà án và bị xử phạt tù từ một tháng đến một năm.

Điều 8.

Người nào lợi dụng quyền lập hội để hoạt động nguy hại đến lợi ích nước nhà, lợi ích nhân dân như là chống pháp luật, chống lại chế độ, chống lại chính quyền dân chủ nhân dân, chia rẽ dân tộc, hại đến thuần phong mỹ tục, phá hoại sự nghiệp đấu tranh cho hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ của Tổ quốc, phá tình hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước, tuyên truyền chiến tranh, sẽ bị truy tố trước toà án và xử phạt theo luật pháp hiện hành, hội có thể bị giải tán và tài sản của hội có thể bị tịch thu.

Điều 9.

Các đoàn thể dân chủ và các đoàn thể nhân dân đã tham gia Mặt trận dân tộc thống nhất trong thời kỳ kháng chiến, được Quốc hội và Chính phủ công nhận, không thuộc phạm vi quy định của luật này.

Điều 10.

Các hội có mục đích kinh tế không thuộc phạm vi quy định của luật này.

Điều 11.

Tất cả luật lệ nào trái với luật này đều bãi bỏ.

Điều 12.

Chính phủ quy định những chi tiết thi hành luật này.

Hồ Chí Minh

(Đã ký)

Văn bản liên quan cùng nội dung
Văn bản liên quan nội dung
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Luật về quyền lập hội 1957

Số hiệu: 102-SL/L-004
Loại văn bản: Luật
Ngày ban hành: 20/05/1957
Nơi ban hành: Quốc hội
Người ký: Hồ Chí Minh
Ngày công báo: 26/06/1957
Số công báo: Số 26
Ngày hiệu lực: 04/06/1957
Tình trạng: Còn hiệu lực
Lĩnh vực: Quyền dân sự
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Luật về quyền lập hội 1957?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký