Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định số 002-NĐ ban hành năm 1956 do Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên ký ban hành, quy định chi tiết về thể lệ mở trường tư thục nhằm bảo đảm việc học tập cho con em nhân dân tại các trường tư thục đạt kết quả tốt nhất.

Phạm vi và đối tượng áp dụng: Thể lệ này áp dụng đối với tất cả các cá nhân và tổ chức đứng ra mở trường tư thục dạy văn hóa, ngoại ngữ hoặc các môn nghiệp vụ, năng khiếu trên lãnh thổ Việt Nam. Trường tư thục được định nghĩa là những cơ sở giáo dục do cá nhân hoặc tổ chức tự thành lập, tự quản lý và nhân viên không thuộc biên chế chi trả lương của Chính phủ. Quy định này không áp dụng đối với người nước ngoài (ngoại kiều) muốn mở trường tư thục tại Việt Nam, đối tượng này sẽ được điều chỉnh bởi một văn bản pháp lý riêng biệt.

Nhiệm vụ và quyền hạn của trường tư thục

  • Giảng dạy theo đúng tinh thần, đường lối giáo dục của Chính phủ, áp dụng đúng và dạy đủ chương trình học, đồng thời thi hành nghiêm túc các chỉ thị của Bộ Giáo dục và cơ quan giáo dục địa phương về quy chế tổ chức cũng như nội dung giảng dạy.
  • Nỗ lực tạo điều kiện tốt nhất cho việc giảng dạy của giáo viên và việc học tập của học sinh nhằm bảo đảm chất lượng giáo dục.
  • Tuân thủ nghiêm ngặt các luật lệ về vệ sinh trường học, luật lao động đối với giáo viên, công nhân viên và các quy định về đăng ký kinh doanh công thương nghiệp.
  • Thực hiện báo cáo định kỳ cho các cấp chính quyền và cơ quan giáo dục trực thuộc về mọi hoạt động của nhà trường; chịu sự kiểm soát trực tiếp, thường xuyên từ các cơ quan chính quyền, giáo dục và y tế địa phương.
  • Được cử đại diện tham gia các kỳ sinh hoạt, hội nghị, lớp huấn luyện và các hội đồng chấm thi do cơ quan Giáo dục tổ chức để nâng cao nghiệp vụ.

Điều kiện hoạt động và tiêu chuẩn nhân sự

  • Điều kiện đối với người sáng lập: Cá nhân xin mở trường phải có lý lịch tốt; tổ chức xin mở trường phải có giấy phép hoạt động hợp pháp. Người đại diện tổ chức phải có giấy ủy quyền chính thức, nêu rõ trách nhiệm chính thuộc về tổ chức và trách nhiệm liên đới thuộc về người được ủy quyền. Công chức đang làm việc cho Chính phủ không được phép mở trường hoặc làm hiệu trưởng trường tư thục.
  • Yêu cầu về cơ sở vật chất: Nhà cửa, dụng cụ học tập phải chắc chắn, sạch sẽ, bảo đảm an toàn và sức khỏe cho học sinh. Lớp học và phòng ngủ (nếu có) phải thông thoáng và đủ ánh sáng.
  • Tiêu chuẩn nhân sự: Hiệu trưởng, giáo viên, giám thị và nhân viên phải có hạnh kiểm, sức khỏe tốt, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về độ tuổi, học lực, văn bằng theo quy định của Bộ Giáo dục và phải được cơ quan giáo dục có thẩm quyền cho phép hoạt động.
  • Chế độ trách nhiệm của Hiệu trưởng: Mỗi người chỉ được làm hiệu trưởng của một trường duy nhất. Việc kiêm nhiệm chi nhánh phải do cơ quan giáo dục có thẩm quyền phê duyệt. Hiệu trưởng phải trực tiếp điều hành thực tế và chịu trách nhiệm toàn diện về mọi mặt của nhà trường trước pháp luật và cơ quan chuyên môn.
  • Quy định về danh nghĩa và quyền lợi: Tên trường, con dấu, giấy tờ giao dịch bắt buộc phải ghi rõ cụm từ "trường tư thục" hoặc "lớp tư thục". Học sinh và giáo viên trường tư không bị áp dụng giới hạn về tuổi tối đa của học sinh công lập và số giờ giảng dạy tối đa hàng tuần của giáo viên công lập. Nhà trường phải bảo đảm chi trả lương đầy đủ cho nhân sự khi được cử đi học tập, huấn luyện do ngành giáo dục tổ chức.

Thủ tục và hồ sơ xin phép mở trường

  • Hồ sơ yêu cầu bao gồm: Đơn xin phép mở trường (có cam đoan thực hiện đầy đủ nghĩa vụ); Tờ khai chi tiết về trường (tên, ngành học, cấp học, vị trí, số nhân sự, số lớp, phòng thí nghiệm, ký túc xá, phương tiện đất đai); Bản vẽ phác họa kích thước các phòng học; Hồ sơ lý lịch của hiệu trưởng, giáo viên, nhân viên; Tờ khai biểu phí học phí; Bản sao các hợp đồng liên quan (thuê nhà, đất, thiết bị, hợp đồng lao động) có xác nhận của chính quyền địa phương; Bản sao điều lệ tổ chức (nếu người xin mở là tổ chức).
  • Quy trình tiếp nhận và thẩm định: Hồ sơ nộp tại cơ quan Giáo dục địa phương. Cơ quan này sẽ thẩm định, phối hợp lấy ý kiến của các cơ quan liên quan như Công an, Y tế nếu cần thiết trước khi trình Ủy ban Hành chính cấp phép.
  • Thủ tục trưng cầu ý kiến nhân dân: Trong trường hợp cần thiết phải điều tra mức độ thuận lợi và bất tiện, cơ quan Giáo dục sẽ thông báo rộng rãi trên loa phát thanh hoặc báo chí trong vòng một tuần. Sau 10 ngày kể từ ngày công bố, nếu không có khiếu nại thì hồ sơ được xem là không có trở ngại.
  • Tính chất của giấy phép: Giấy phép mở trường hoặc dạy học được cấp đích danh cho cá nhân hoặc tổ chức xin phép, tuyệt đối không được chuyển nhượng dưới bất kỳ hình thức nào.

Quy định trong quá trình hoạt động và chấm dứt hoạt động

  • Thay đổi trong quá trình hoạt động: Mọi hành vi di nhượng, di chuyển địa điểm, tăng số lớp vượt quá giấy phép, thay đổi cấp học, đổi tên trường hoặc thay đổi nhân sự (hiệu trưởng, giáo viên, nhân viên) đều phải báo cáo trước và được cơ quan có thẩm quyền chuẩn y mới được thực hiện.
  • Xử lý khi mất giấy phép: Trường hợp bị cháy hoặc mất giấy phép, người đứng đầu phải trình báo Công an hoặc chính quyền địa phương ngay lập tức. Sau 7 ngày kể từ ngày trình báo, đương sự mang giấy chứng nhận trình báo đến cơ quan cấp phép để xin cấp lại.
  • Tạm ngừng hoặc giải thể: Nếu muốn tạm đóng cửa trường trên 10 ngày hoặc chấm dứt hoạt động hẳn, hiệu trưởng phải làm đơn xin phép nêu rõ lý do chính đáng. Trước khi đóng cửa, nhà trường bắt buộc phải hoàn thành việc thanh toán toàn bộ các khoản nợ đối với giáo viên, nhân viên, học sinh và các bên liên quan.

Thẩm quyền cấp phép hoạt động

Quyền hạn cho phép mở các trường, lớp tư thục dạy văn hóa được phân cấp cụ thể như sau:

  • Cấp vỡ lòng: Do Ủy ban Hành chính xã quyết định cho phép, sau đó báo cáo lên Ủy ban Hành chính huyện và Ty Giáo dục tỉnh.
  • Cấp mẫu giáo, tiểu học và cấp I: Do Ủy ban Hành chính tỉnh hoặc thành phố trực thuộc quyết định cho phép.
  • Cấp II (Trung học đệ nhất cấp): Do Ủy ban Hành chính tỉnh hoặc thành phố quyết định cho phép, đồng thời báo cáo lên Ủy ban Hành chính khu và Khu Giáo dục.
  • Cấp III (Trung học đệ nhị cấp): Do Ủy ban Hành chính khu quyết định cho phép và báo cáo lên Bộ Giáo dục (Nha Giáo dục phổ thông).
  • Các lớp chuyên biệt: Ủy ban Hành chính tỉnh hoặc thành phố có thẩm quyền cấp phép cho các lớp dạy ngoại ngữ, vẽ, nữ công gia chánh, kế toán, đánh máy chữ, tốc ký, thể dục thể thao và võ thuật.

Chế tài xử lý vi phạm

  • Các hình thức kỷ luật hành chính: Cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định tại thể lệ này sẽ bị cơ quan có thẩm quyền áp dụng hình thức cảnh cáo hoặc thu hồi giấy phép hoạt động (tạm thời hoặc vĩnh viễn) tùy theo mức độ nghiêm trọng của hành vi.
  • Xử lý hành vi nghiêm trọng: Hành vi mở trường, dạy học không phép, tiếp tục hoạt động sau khi bị thu hồi giấy phép, hoặc có hành vi đầu cơ, gian lận giấy phép sẽ bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc. Nếu vi phạm nghiêm trọng các quy định pháp luật, người vi phạm sẽ bị truy tố trước tòa án.
  • Thu hồi do không hoạt động: Giấy phép đã cấp sẽ bị thu hồi nếu quá thời hạn 2 tháng kể từ ngày cấp mà cá nhân, tổ chức không tiến hành mở trường hoạt động thực tế mà không có lý do chính đáng.

Quy định chuyển tiếp và hiệu lực thi hành

  • Kê khai lại đối với cơ sở cũ: Các trường, lớp tư thục đã được cấp phép trước ngày ban hành thể lệ này phải mang toàn bộ giấy phép cũ và chứng từ liên quan đến cơ quan giáo dục để thực hiện kê khai lại và xin cấp giấy phép mới. Nếu quá thời hạn do Bộ Giáo dục ấn định mà không thực hiện kê khai lại nhưng vẫn tiếp tục hoạt động thì sẽ bị xử lý như hành vi hoạt động không phép.
  • Hiệu lực thi hành: Thể lệ này có hiệu lực áp dụng tại từng tỉnh kể từ ngày được công bố thi hành chính thức tại tỉnh đó. Các quy định trước đây trái với thể lệ này đều bị bãi bỏ. Chánh Văn phòng Bộ Giáo dục và Giám đốc Nha Giáo dục phổ thông chịu trách nhiệm hướng dẫn chi tiết và thi hành nghị định này.

BỘ GIÁO DỤC
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 002-NĐ

Hà Nội, ngày 11 tháng 01 năm 1956

NGHỊ ĐỊNH

BAN HÀNH THỂ LỆ VỀ VIỆC MỞ TRƯỜNG TƯ THỤC

BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC

Chiếu Sắc lệnh số 119 ngày 09-7-1946 tổ chức Bộ Giáo dục;
Chiếu Quyết định số 609-TTg ngày 04-11-1955 của Thủ tướng Phủ về việc cho phép kinh doanh và đăng ký kinh doanh;
Theo đề nghị của ông Giám đốc Nha Giáo dục phổ thông,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. – Để đảm bảo việc học tập cho con em nhân dân tại các trường tư thục có kết quả tốt nay ban hành thể lệ về việc mở trường tư thục.

Điều 2. – Thể lệ này sẽ áp dụng từ ngày ban hành Nghị định.

Điều 3. – Những thể lệ trái với bản thể lệ kèm theo Nghị định này đều bãi bỏ.

Điều 4. – Ông Chánh Văn phòng Bộ Giáo dục và ông Giám đốc Nha Giáo dục phổ thông chiếu Nghị định thi hành.

BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC




Nguyễn Văn Huyên

THỂ LỆ

VỀ VIỆC MỞ TRƯỜNG TƯ THỤC

Chương 1:

NGUYÊN TẮC CHUNG

Điều 1. Để cơ quan Giáo dục có thể giúp đỡ và hướng dẫn trường tư thục giảng dạy theo đúng tinh thần, đường lối giáo dục dân chủ nhân dân và phát triển có kế hoạch để đảm bảo việc học tập cho con em của nhân dân tại các trường tư thục có kết quả tốt, nay ban hành thể lệ về việc mở trường tư thục.

Điều 2. – Trường tư thục là những trường do cá nhân hay tổ chức đứng ra mở, mà nhân viên không do Chính phủ bổ dụng, dạy quá 10 học sinh (nếu là trường dạy văn hoá, ngoại ngữ) hay 5 học sinh (nếu là trường dạy các môn học chuyên nghiệp khác) và thu học phí của học sinh.

Các trường tư thục có thể có một hay nhiều lớp, và bất cứ có một hay nhiều lớp, đều phải theo đúng thể lệ này.

Điều 3. – Trên đất nước Việt Nam, tất cả những cá nhân, những tổ chức nào mở trường tư thục dạy văn hóa, ngoại ngữ, vẽ, nữ công, gia chánh, kế toán, đánh máy chữ, tốc ký, thể dục, thể thao, võ, đều phải xin phép trước.

Những cá nhân hoặc những tổ chức, sau khi được cấp giấy phép mở trường tư thục, thì được hoạt động và được bảo hộ theo luật lệ của Nhà nước.

Điều 4. – Thể lệ này không áp dụng cho:

- Những xưởng thợ mà người chủ xưởng nhận, ngoài những thợ chuyên môn, một số người đến tập nghề.

- Những trường chuyên dạy về giáo lý, kinh bổn của các tổ chức tôn giáo chỉ nhằm mục đích duy nhất là truyền bá đạo giáo.

Điều 5. – Các trường tư thục có nhiệm vụ:

a) Giảng dạy theo đúng tinh thần, đường lối giáo dục của Chính phủ, áp dụng đúng và dạy đủ chương trình học và thi hành những chỉ thị của Bộ Giáo dục và cơ quan Giáo dục địa phương về quy chế tổ chức nhà trường cũng như về nội dung giảng dạy.

b) Luôn luôn cố gắng tạo điều kiện tốt cho việc giảng dạy của giáo viên và việc học tập của học sinh để đảm bảo chất lượng giáo dục.

c) Tuân theo luật lệ vệ sinh chung về trường học, luật lệ lao động đối với giáo viên và công nhân viên nhà trường. Luật lệ đăng ký kinh doanh công thương nghiệp.

d) Thường lệ báo cáo với các cấp chính quyền và giáo dục trực thuộc về mọi hoạt động của nhà trường, chịu sự kiểm soát trực tiếp và thường xuyên của các cơ quan chính quyền, giáo dục và Y tế địa phương.

Điều 6. Các trường tư thục được cử người dự các kỳ sinh hoạt, các hội nghị, các lớp huấn luyện, các hội đồng chấm thi do cơ quan Giáo dục tổ chức.

Chương 2:

NỘI DUNG THỂ LỆ

Điều 7. Những cá nhân có lý lịch tốt, những tổ chức có giấy phép hoạt động, đều có thể đứng ra xin phép mở trường tư thục. Nếu có một tổ chức muốn xin mở trường tư thì người thay mặt tổ chức phải có giấy được ủy quyền chính thức hợp lệ. Trong giấy ủy quyền phải nói rõ người được ủy quyền có quyền đại diện cho tổ chức và nếu xảy ra việc gì sai, thì tổ chức chịu trách nhiệm chính, người được ủy quyền chịu liên đới trách nhiệm. Nếu người thay mặt tổ chức đứng ra xin mở trường, vì một lý do gì không có điều kiện để tự điều khiển trường thì phải cử hiệu trưởng.

Những công chức đang làm việc với Chính phủ không được phép đứng ra xin mở, hoặc xin làm hiệu trưởng trường tư thục.

Điều 8. Nhà cửa, dụng cụ dùng làm trường sở phải chắc chắn, sạch sẽ, đảm bảo sự an toàn và sức khỏe của học sinh. Những lớp học và những phòng ngũ nếu có, phải thoáng khí và đủ ánh sáng.

Điều 9. Hiệu trưởng, giáo viên, giám thị, công nhân viên trường tư thục cấp học nào đều phải có hạnh kiểm và sức khỏe tốt, phải có đủ điều kiện về tuổi, học lực, văn bằng, v.v..... do Bộ Giáo dục quy định và phải được cơ quan Giáo dục có thẩm quyền cho phép mới được hoạt động.

Điều 10. Một người chỉ được phép làm hiệu trưởng một trường. Việc cho phép một hiệu trưởng điều khiển thêm một chi nhánh của trường sẽ do cơ quan Giáo dục có thẩm quyền xét định.

Điều 11. Hiệu trưởng trường tư phải trực tiếp điều khiển thực sự trường mình và phải chịu trách nhiệm về mọi mặt về trường mình trước các cơ quan chính quyền và chuyên môn.

Điều 12. Tên trường hay lớp, các giấy tờ giao dịch, con dấu, v.v... bắt buộc phải ghi rõ là trường hay lớp tư thục X…

Điều 13. Thể lệ về hạn tuổi tối đa của học sinh theo học trường công và thể lệ về số giờ giảng dạy tối đa hàng tuần của giáo viên trường công không áp dụng đối với học sinh và giáo viên trường tư.

Điều 14. Nhà trương phải bảo đảm lương tháng hay lương dạy giờ của hiệu trưởng, giáo viên, nhân viên được cử đi dự hội nghị giáo dục hay lớp huấn luyện do cơ quan giáo dục tổ chức.

Điều 15. Muốn xin mở trường, phải nộp những giấy tờ sau đây:

a) Đơn xin phép mở trường trong đó người xin phép cam đoan thi hành đầy đủ nhiệm vụ của một trường tư thục do bản thể lệ này quy định:

b) Một tờ khai ghi rõ: Tên trường – Ngành học – cấp học – vị trí trường sở - số nhân viên nhà trường - số lớp học – số phòng thí nghiệm - số phòng dùng làm ký túc xá – phương tiện dùng vào việc mở trường (nhà cửa, đất đai, v.v....).

c) Cùng những giấy tờ cần thiết khác như:

1 - Bản phác họa trường sẽ ghi rõ các bề (dài, rộng, cao) của các phòng dùng làm lớp học, phòng thí nghiệm, ký túc xá, v.v....

2 - Hồ sơ của hiệu trưởng, giáo viên và nhân viên.

3 - Tờ khai giá biểu học phí các lớp.

4 - Bản sao các hợp đồng có liên quan đến việc mở trường đang thực hiện với nhân viên, chủ nhà, chủ đất, chủ cho thuê dụng cụ, chủ nợ, v.v....

5 - Bản sao điều lệ của tổ chức (nếu là một tổ chức xin mở trường)

Tất cả những giấy tờ sao lục phải được chính quyền địa phương nhận thực.

Điều 16. Đơn và hồ sơ xin mở trường phải nộp tại cơ quan Giáo dục địa phương. Sau khi nhận đủ các giấy tờ cần thiết, cơ quan này sẽ xét. Nếu cần phải điều tra hay hỏi ý kiến thêm của cơ quan khác (Công an, Y tế, v.v....) thì cơ quan Giáo dục sẽ chuyển những giấy tờ cần thiết đến cơ quan đó để tiến hành điều tra và lấy ý kiến trước khi đề nghị với Ủy ban Hành chính cấp giấy phép.

Điều 17. Nếu xét cần phải tổ chức việc điều tra tiện và bất tiện, ngoài việc trực tiếp hỏi ý kiến nhân dân, cơ quan Giáo dục sẽ công bố trong một tuần bằng phát thanh hay đăng báo. Qua 10 ngày, kể từ ngày công bố, nếu không ai khiếu nại, thì coi như không có trở ngại gì.

Điều 18. Giấy phép mở trường hay dạy học cấp cho một cá nhân hay một tổ chức nào là riêng của người ấy hay tổ chức ấy, không vì một lý do hay trường hợp nào có thể chuyển cho cá nhân hay tổ chức khác sử dụng.

Điều 19. Trong quá trình mở trường:

a) Nếu muốn di nhượng, di chuyển, mở thêm quá số lớp đã ấn định trong giấy phép, thay đổi cấp học, tên trường, đều phải báo trước cho cơ quan hành chính đã cấp giấy phép, nộp đủ các chứng từ về những sự thay đổi và sau khi được chuẩn Y tế mới được phép thi hành.

b) Nếu muốn thay đổi hiệu trưởng, giáo viên, công nhân viên đều phải báo trước cho cơ quan Giáo dục đã cấp giấy phép, nộp đủ hồ sơ và sau khi được chuẩn Y tế mới được phép hoạt động.

c) Nếu xảy ra cháy hay mất giấy phép mở trường hay dạy học, đương sự phải trình cơ quan Công an hay chính quyền địa phương. Sau 7 ngày kể từ ngày trình đương sự sẽ mang giấy tờ chứng nhận đã trình báo đến cơ quan đã cấp giấy phép cho mình để xin cấp giấy phép khác.

Điều 20. Nếu muốn thôi hẳn hoặc tạm đóng cửa trường trong thời gian quá 10 ngày, hiệu trưởng phải làm giấy xin phép, trình bày rõ lý do. Nếu lý do không chính đáng thì không được chuẩn y. Trước khi đóng cửa, nhà trường phải thanh toán những món nợ của nhân viên, giáo viên, học sinh, v.v....

Chương 3:

THẨM QUYỀN CHO PHÉP MỞ TRƯỜNG, LỚP TƯ THỤC

Điều 21. Ủy ban Hành chính các cấp sau đây có quyền cho phép mở các trường, lớp tư dạy văn hóa;

- Cấp vỡ lòng. Ủy ban Hành chính xã cho phép nhưng phải báo cáo lên Ủy ban Hành chính huyện và Ty Giáo dục tỉnh;

- Cấp mẫu giáo, tiểu học và cấp I. Ủy ban Hành chính tỉnh hay thành phố cho phép.

- Cấp 2 hay trung học đệ nhất cấp: Ủy ban Hành chính tỉnh hay thành phố cho phép nhưng phải báo cáo lên Ủy ban Hành chính khu và Khu Giáo dục;

- Cấp 3 hay trung học đệ nhị cấp: Ủy ban Hành chính khu cho phép nhưng phải báo cáo lên Bộ Giáo dục (Nha Giáo dục phổ thông).

Điều 22. Ủy ban Hành chính tỉnh hay thành phố có quyền cho phép mở các trường, lớp dạy ngoại ngữ, vẽ, nữ công, gia chánh, kế toán, đánh máy chữ, tốc ký, thể dục, thể thao, võ.

Chương 4:

KỶ LUẬT

Điều 23. Những cá nhân hay tổ chức nào không thi hành đúng những điều khoản của bản thể lệ này, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép mở trường hay dạy học sẽ tùy theo lỗi nặng, nhẹ áp dụng một hoặc hai hình thức kỷ luật sau đây:

1. – Cảnh cáo.

2. – Thu hồi hẳn hoặc tạm thời giấy phép mở trường, làm hiệu trưởng hay dạy học.

Điều 24. Những cá nhân hay tổ chức nào:

- Mở trường hay dạy học không có giấy phép, hoặc đã bị thu hồi giấy phép mà vẫn tiếp tục hoạt động;

- Có những hành động đầu cơ hay gian lậu về giấy phép mở trường hay dạy học cũng sẽ bị thi hành kỷ luật nói trong điều 23 trên. Nếu xét có hành động phạm pháp nặng, sẽ đưa truy tố trước Tòa án.

Điều 25. Đối với những cá nhân hay tổ chức đã được cấp giấy phép, quá hai tháng chưa mở trường mà không có lý do chính đáng, thì cơ quan cấp giấy phép sẽ thu hồi.

Chương 5:

ĐIỀU KHOẢN CHUYỂN TIẾP

Điều 26. Những trường, lớp tư thục đã có giấy phép mở trường cấp trước ngày ban hành bản thể lệ này, sẽ đem giấy phép cũ và các giấy tờ khác có liên quan (giấy phép tuyển dụng giáo viên, di trường sở, v.v....) đến cơ quan giáo dục để kê khai lại và xin cấp giấy phép mới theo đúng bản thể lệ này. Nếu có sự gì thay đổi thì kê khai rõ đúng sự thực.

Qua một thời hạn do Bộ Giáo dục ấn định, các trường chưa kê khai lại để xin cấp giấy phép mới mà vẫn tiếp tục hoạt động thì sẽ áp dụng kỷ luật nói trong các điều 23 và 24 trên về việc mở trường không có giấy phép.

Chương 6:

ĐIỀU KHOẢN PHỤ

Điều 27. Thể lệ này có hiệu lực tại từng tỉnh kể từ ngày công bố thi hành ở tỉnh đó.

Những chi tiết thi hành thể lệ này do Bộ Giáo dục quy định.

Điều 28. Một Nghị định không khác sẽ quy định thể lệ áp dụng cho ngoại kiều xin mở trường tư tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 002-NĐ năm 1956 ban hành thể lệ mở trường tư thục do Bộ trưởng Bộ Giáo Dục ban hành.

Số hiệu: 002-NĐ
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 11/01/1956
Nơi ban hành: Bộ Giáo dục
Người ký: Nguyễn Văn Huyên
Ngày công báo: 31/01/1956
Số công báo: Số 1
Ngày hiệu lực: 11/01/1956
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Giáo dục
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 002-NĐ năm 1956 ban hành thể lệ mở...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký