Nghị định số 94-NĐ năm 1956 do Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên ký ban hành quy định chi tiết về thể lệ mở trường tư thục Hoa kiều tại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm thiết lập hành lang pháp lý, quản lý hoạt động giáo dục tư thục của cộng đồng người Hoa tại Việt Nam trong giai đoạn bấy giờ.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với tất cả các cá nhân, tổ chức Hoa kiều có nguyện vọng thành lập, vận hành các cơ sở giáo dục tư thục dạy văn hóa hoặc dạy các môn học chuyên biệt, cũng như các cá nhân Hoa kiều mong muốn đảm nhiệm chức vụ hiệu trưởng hoặc tham gia giảng dạy với tư cách giáo viên tại các trường này trên lãnh thổ Việt Nam.
Quy định chung về việc thành lập trường tư thục Hoa kiều
- Mọi cá nhân hoặc tổ chức Hoa kiều khi muốn mở trường dạy văn hóa hoặc dạy các môn học cụ thể bao gồm: ngoại ngữ, tiếng Việt Nam, vẽ, nữ công, gia chánh, kế toán, đánh máy chữ, tốc ký, thể thao, thể dục, võ thuật tại Việt Nam đều phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về mở trường tư thục được ban hành kèm theo Nghị định số 002-NĐ ngày 11/01/1956 của Bộ Giáo dục.
Phân cấp thẩm quyền cấp phép hoạt động
- Thẩm quyền của Ủy ban hành chính khu: Chịu trách nhiệm xem xét và cấp phép cho Hoa kiều mở các trường dạy văn hóa thuộc cấp tiểu học, hoặc các lớp, trường dạy các môn chuyên biệt như ngoại ngữ, tiếng Việt Nam, vẽ, nữ công, gia chánh, kế toán, đánh máy chữ, tốc ký, thể thao, thể dục, võ thuật.
- Thẩm quyền của Bộ Giáo dục: Chịu trách nhiệm xem xét và cấp phép cho Hoa kiều mở các trường dạy văn hóa từ cấp trung học trở lên.
Quản lý chương trình giáo dục
- Chương trình giáo dục được áp dụng giảng dạy trong các trường Hoa kiều không được tự ý triển khai mà bắt buộc phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép mở trường phê duyệt và chuẩn y trước khi đưa vào thực tế giảng dạy.
Tiêu chuẩn đối với Hiệu trưởng và Giáo viên
- Các cá nhân Hoa kiều muốn đảm nhận chức vụ hiệu trưởng hoặc làm giáo viên tại các trường Hoa kiều phải tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn, điều kiện quy định đối với người Việt Nam được nêu tại Nghị định số 80-NĐ ngày 07/02/1956. Các cá nhân này chỉ được phép hoạt động sau khi đã được cơ quan chức năng cấp phép chính thức.
- Việc xác định giá trị tương đương của các bằng cấp do phía Hoa kiều xuất trình, cũng như đánh giá trình độ học lực thực tế của họ, hoàn toàn thuộc thẩm quyền xét định của cơ quan quản lý giáo dục có thẩm quyền của Việt Nam.
Thủ tục và hồ sơ xin phép
- Các cá nhân, tổ chức Hoa kiều có nhu cầu mở trường, hoặc cá nhân xin làm hiệu trưởng, giáo viên phải lập và gửi đơn kèm theo hồ sơ theo đúng các quy định tại Nghị định số 002-NĐ ngày 11/01/1956 và Nghị định số 80-NĐ ngày 07/02/1956 của Bộ Giáo dục.
- Toàn bộ hồ sơ xin phép phải được nộp đến Ty Giáo dục hoặc Sở Giáo dục tại địa phương nơi dự kiến mở trường hoặc nơi cá nhân đăng ký làm việc để được xem xét, giải quyết theo quy trình.
Trách nhiệm thi hành
- Ông Chánh văn phòng Bộ Giáo dục và ông Giám đốc Nha Giáo dục phổ thông chịu trách nhiệm thi hành các điều khoản quy định tại Nghị định này.
| BỘ GIÁO DỤC | VIỆT |
| Số: 94-NĐ | Hà Nội, ngày 10 tháng 02 năm 1956 |
BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC
Chiếu sắc lệnh số 119 ngày 09-7-1946 tổ chức Bộ Giáo dục;
Chiếu quyết định số 609-TTg ngày 4-11-1955 của Thủ tướng Phủ về việc cho phép kinh doanh và đăng ký kinh doanh;
Chiếu Nghị định số 002-NĐ ngày 11-1-1956 của Bộ Giáo dục ban hành thể lệ xin mở các trường tư thục;
Chiếu Nghị định số 80-NĐ ngày 7-2-1956 của Bộ Giáo dục quy định những điều kiện làm hiệu trưởng và giáo viên các trường tư thục;
Theo đề nghị của ông Giám đốc Nha Giáo dục phổ thông,
NGHỊ ĐỊNH:
Việc cho phép Hoa kiều mở những trường dạy văn hóa cấp trung học trở lên thuộc thẩm quyền Bộ Giáo dục.
Giá trị tương đương những bằng cấp của Hoa kiều xuất trình cũng như trình độ học lực của Hoa kiều đều do cơ quan giáo dục có thẩm quyền cho phép xét định.
| BỘ TRƯỞNG BỘ GIÁO DỤC |
Lược đồ văn bản đang được cập nhật.