Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định 117-HĐBT được Hội đồng Bộ trưởng ban hành năm 1988 quy định về công tác giám định tư pháp, nhằm xác lập cơ sở pháp lý cho việc sử dụng kiến thức, phương pháp khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ chuyên môn phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, cùng các tranh chấp lao động.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với hoạt động giám định tư pháp được thực hiện theo quyết định trưng cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng (bao gồm cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân). Đối tượng điều chỉnh trực tiếp bao gồm các giám định viên tư pháp, giám định viên trưởng, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, quản lý giám định viên và các cơ quan tiến hành tố tụng liên quan.

Nội dung cốt lõi của Nghị định 117-HĐBT

1. Định nghĩa và nguyên tắc thực hiện giám định tư pháp

  • Giám định tư pháp là việc sử dụng các kiến thức, phương pháp khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn để đưa ra kết luận về những vấn đề có liên quan đến các vụ án theo quyết định trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng nhằm phục vụ công tác điều tra, truy tố và xét xử.
  • Hoạt động giám định tư pháp do một giám định viên hoặc một tập thể giám định viên tiến hành độc lập, tuân thủ nghiêm ngặt theo đúng nội dung được ghi trong quyết định trưng cầu giám định.
  • Bộ Tư pháp phối hợp với Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Nội vụ để quy định cụ thể về cấp có thẩm quyền ra quyết định trưng cầu giám định tư pháp.

2. Hệ thống tổ chức và thẩm quyền bổ nhiệm giám định viên

  • Các cơ quan được phép bổ nhiệm giám định viên chuyên trách phục vụ thường xuyên cho công tác tố tụng bao gồm: Bộ Nội vụ (giám định viên kỹ thuật hình sự và pháp y); Bộ Y tế (giám định viên pháp y và pháp y tâm thần); Bộ Quốc phòng (giám định viên pháp y thuộc Bộ); Bộ Tài chính (giám định viên kế toán tài chính); Bộ Văn hoá (giám định viên tác phẩm văn học nghệ thuật, văn hoá phẩm); Uỷ ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước (giám định viên trong từng lĩnh vực khoa học kỹ thuật cụ thể).
  • Đối với các cơ quan có từ 3 giám định viên trở lên, tiến hành bổ nhiệm một giám định viên trưởng để quản lý.
  • Ở các ngành khác không có tổ chức giám định tư pháp chuyên trách, khi có quyết định trưng cầu giám định liên quan đến chuyên môn của ngành, thủ trưởng ngành đó có trách nhiệm cử người thực hiện giám định. Người được cử có đầy đủ nhiệm vụ và quyền hạn của một giám định viên.
  • Về thẩm quyền bổ nhiệm: Thủ trưởng các Bộ, ngành chuyên môn ở cấp Trung ương quyết định bổ nhiệm giám định viên và giám định viên trưởng cấp Trung ương sau khi có ý kiến nhất trí bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh quyết định bổ nhiệm giám định viên và giám định viên trưởng cấp tỉnh theo đề nghị của thủ trưởng ngành chuyên môn cùng cấp và Giám đốc Sở Tư pháp.

3. Tiêu chuẩn đối với giám định viên tư pháp

  • Phải có phẩm chất chính trị tốt, trung thực và khách quan.
  • Có trình độ chuyên môn nghiệp vụ được đào tạo từ bậc đại học trở lên.
  • Có thâm niên công tác thực tế trong lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ đó ít nhất là 5 năm.

4. Nhiệm vụ và quyền hạn của giám định viên

  • Nhiệm vụ của giám định viên: Thực hiện đầy đủ các nội dung giám định theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng; lập kết luận giám định bằng văn bản và chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về kết luận đó; giải thích rõ ràng bản kết luận khi có yêu cầu; tiến hành giám định bổ sung hoặc giám định lại; giữ bí mật tuyệt đối thông tin, tài liệu và kết quả giám định; tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật tố tụng.
  • Quyền hạn của giám định viên: Được quyền từ chối thực hiện giám định nếu thời gian không đủ, tài liệu cung cấp thiếu hụt hoặc không có giá trị kết luận, nội dung yêu cầu vượt quá tầm hiểu biết chuyên môn, hoặc có lý do chính đáng khác; yêu cầu cơ quan tố tụng bổ sung tài liệu hoặc cán bộ chuyên môn phối hợp; được quyền ghi ý kiến kết luận riêng của mình vào bản kết luận chung nếu không thống nhất ý kiến trong trường hợp giám định tập thể; được độc lập thực hiện giám định bằng kiến thức chuyên môn mà không bị cơ quan tiến hành tố tụng can thiệp.

5. Các trường hợp loại trừ không được tham gia giám định

  • Bản thân giám định viên là bị can, bị cáo hoặc là đương sự khác trong vụ án.
  • Bản thân có quan hệ thân thuộc hoặc có sự phụ thuộc về mặt công tác, kinh tế đối với bị can, bị cáo hoặc các đương sự khác trong vụ án.
  • Đã hoặc đang tham gia vào chính vụ án đó với tư cách tố tụng khác như điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự.

6. Chế độ phụ cấp, khen thưởng và xử lý vi phạm

  • Giám định viên khi thực hiện nhiệm vụ được hưởng khoản phụ cấp tương ứng với tính chất đơn giản hay phức tạp của từng vụ việc.
  • Cơ quan ra quyết định trưng cầu giám định có trách nhiệm dự trù kinh phí và trực tiếp chi trả phụ cấp cho giám định viên. Mức phụ cấp cụ thể do Bộ Tư pháp thống nhất với Bộ Tài chính để ban hành quy định.
  • Giám định viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ sẽ được xét khen thưởng theo quy định. Ngược lại, nếu vi phạm các quy định tại Nghị định này hoặc các quy định pháp luật khác sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất, mức độ vi phạm.

7. Trách nhiệm của giám định viên trưởng và cơ quan quản lý nhà nước

  • Nhiệm vụ của giám định viên trưởng: Quản lý danh sách giám định viên thuộc Bộ, ngành ở Trung ương hoặc Sở, ngành ở địa phương; làm đầu mối liên hệ công tác với cơ quan tố tụng và cơ quan tư pháp; hỗ trợ thủ trưởng cơ quan cử đúng, kịp thời giám định viên khi có quyết định trưng cầu; cử giám định viên khác thay thế khi giám định viên ban đầu thuộc trường hợp từ chối hoặc bị từ chối giám định.
  • Bộ Tư pháp thực hiện chức năng thống nhất quản lý nhà nước đối với công tác giám định tư pháp trên phạm vi cả nước; chịu trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra các hoạt động giám định và tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp lý cần thiết cho đội ngũ giám định viên.

Hiệu lực thi hành

Nghị định 117-HĐBT có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Tất cả các quy định trước đây trái với nội dung của Nghị định này đều bị bãi bỏ. Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng các Bộ, Chủ nhiệm các Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 117-HĐBT

Hà Nội, ngày 21 tháng 7 năm 1988

NGHỊ ĐỊNH

CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 117-HĐBT NGÀY 21-7-1988 VỀ GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG

Để góp phần làm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử được khách quan, chính xác, kịp thời và đúng pháp luật;
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4 tháng 7 năm 1981;
Sau khi trao đổi ý kiến với Chánh án Toà án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. - Giám định tư pháp là sử dụng những kiến thức, phương pháp khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn để kết luận về vấn đề có liên quan đến các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, các tranh chấp lao động theo quyết định trưng cầu giám định của cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân (trong văn bản này gọi chung là cơ quan tiến hành tố tụng) nhằm phục vụ công tác điều tra, truy tố và xét xử.

Bộ Tư pháp cùng với Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Nội vụ quy định cấp có thẩm quyền quyết định trưng cầu giám định tư pháp.

Điều 2. - Giám định tư pháp do giám định viên hoặc tập thể giám định viên tiến hành theo nội dung được ghi trong quyết định trưng cầu giám định.

Điều 3. - Những cơ quan sau đây được bổ nhiệm các giám định viên để phục vụ thường xuyên cho công tác điều tra, truy tố xét xử:

Bộ Nội vụ có giám định viên kỹ thuật hình sự và giám định viên pháp y;

Bộ Y tế có giám định viên pháp y và giám định viên pháp y tâm thần;

Bộ Quốc phòng có giám định viên pháp y thuộc Bộ Quốc phòng;

Bộ Tài chính có giám định viên kế toán tài chính;

Bộ Văn hoá có giám định viên tác phẩm văn học nghệ thuật, văn hoá phẩm nghệ thuật;

Uỷ ban khoa học và kỹ thuật Nhà nước có giám định viên trong từng lĩnh vực khoa học kỹ thuật.

Các cơ quan có từ 3 giám định viên trở lên thì bổ nhiệm giám định viên trưởng.

Ở các ngành khác không có tổ chức giám định tư pháp. Khi có quyết định trưng cầu giám định tư pháp về những vụ việc có liên quan tới chuyên môn của ngành đó, thì thủ trưởng ngành đó cử người làm giám định. Người được cử làm giám định có nhiệm vụ, quyền hạn của giám định viên.

Điều 4. - Thủ trưởng các Bộ, ngành chuyên môn ở cấp Trung ương ra quyết định bổ nhiệm giám định viên và giám định viên trưởng cấp Trung ương của Bộ, ngành mình sau khi có ý kiến nhất trí của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.

Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương ra quyết định bổ nhiệm giám định viên và giám định viên trưởng cấp tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương, thuộc từng ngành ở địa phương mình theo đề nghị của thủ trưởng ngành chuyên môn đó và Giám đốc Sở Tư pháp.

Điều 5. - Giám định viên phải có những tiêu chuẩn sau đây:

a) Có phẩm chất chính trị tốt;

b) Có trình độ nghiệp vụ chuyên môn từ đại học trở lên;

c) Có thâm niên công tác về nghiệp vụ chuyên môn đó ít nhất là 5 năm.

Điều 6. - Nhiệm vụ của giám định viên:

1. Thực hiện các nội dung giám định theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng;

2. Kết luận giám định bằng văn bản và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết luận đó;

3. Giải thích bản kết luận giám định theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng;

4. Giám định bổ sung hoặc giám định lại khi cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu;

5. Không được để lộ tài liệu và kết quả giám định;

6. Tuân thủ các quy định khác của pháp luật tố tụng.

Điều 7. - Quyền hạn của giám định viên:

1. Từ chối việc thực hiện giám định trong trường hợp thời gian không đủ để tiến hành giám định , các tài liệu cung cấp không đủ hoặc không có giá trị để kết luận, nội dung yêu cầu giám định vượt quá phạm vi hiểu biết chuyên môn của mình hoặc có lý do chính đáng khác;

2. Yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng bổ sung tài liệu hoặc cán bộ chuyên môn để giám định khi cần thiết;

3. Viết kết luận riêng của mình vào bản kết luận chung nếu không thống nhất với kết luận chung đó (trường hợp giám định tập thể).

4. Giám định viên tiến hành giám định bằng kiến thức và phương pháp nghiệp vụ chuyên môn của mình. Cơ quan tiến hành tố tụng không được can thiệp vào công việc chuyên môn của giám định viên.

Điều 8. - Giám định viên không được làm giám định trong vụ án khi:

1. Bản thân là bị can, bị cáo hoặc đương sự khác.

2. Bản thân có quan hệ thân thuộc hoặc phụ thuộc về công tác, về kinh tế với bị can, bị cáo hoặc các đương sự khác.

3. Bản thân đã hoặc đang tham gia vụ án đó với tư cách là điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, người bào chữa, người đại diện của đương sự.

Điều 9. - Khi thực hiện giám định giám định viên được hưởng phụ cấp tuỳ theo tính chất (đơn giản hay phức tạp) của từng vụ việc được trưng cầu.

Cơ quan trưng cầu giám định dự trù kinh phí cho công tác giám định tư pháp và chỉ trả phụ cấp cho giám định viên.

Bộ Tư pháp quy định mức trả phụ cấp cho giám định viên đối với từng loại việc sau khi thống nhất ý kiến với Bộ Tài chính.

Điều 10. - Giám định viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được xét khen thưởng, nếu vi phạm những quy định trong Nghị định này hoặc những quy định khác của pháp luật sẽ bị kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tuỳ theo mức độ vi phạm.

Điều 11. - Nhiệm vụ, quyền hạn của giám định viên trưởng;

Quản lý danh sách giám định viên trong cơ quan Bộ, ngành, chuyên môn của mình ở Trung ương, trong Sở, ngành chuyên môn của mình ở địa phương và là đầu mối liên hệ công tác với các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan tư pháp.

Trực tiếp giúp thủ trưởng cơ quan liên hệ công tác với các giám định viên; cử đúng và kịp thời giám định viên khi có quyết định trưng cầu giám định của cơ quan tiến hành tố tụng.

Trường hợp có những lý do đã quy định ở điểm 1, điều 7 của Nghị định này thì giám định viên trưởng phải cử giám định viên khác thay thế.

Điều 12. - Bộ Tư pháp thống nhất quản lý công tác giám định tư pháp; hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra hoạt động giám định tư pháp; bồi dưỡng kiến thức pháp lý cho giám định viên.

Điều 13. - Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Bộ trưởng các Bộ, Chủ nhiệm các Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Điều 14. - Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Những quy định trước đây trái với Nghị định này đều bị bãi bỏ.

Võ Văn Kiệt

(Đã ký)

Văn bản liên quan hiệu lực
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 117-HĐBT năm 1988 về giám định Tư pháp do Hội đồng Bộ trưởng ban hành

Số hiệu: 117-HĐBT
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 21/07/1988
Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
Người ký: Võ Văn Kiệt
Ngày công báo: 31/08/1988
Số công báo: Số 16
Ngày hiệu lực: 21/07/1988
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Thủ tục Tố tụng
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 117-HĐBT năm 1988 về giám định Tư p...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký