Thông tư 78/TT-QĐ-1989 do Bộ Tư pháp ban hành năm 1989 nhằm hướng dẫn thực hiện Nghị định số 117-HĐBT ngày 21/7/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về giám định tư pháp. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng, đặt nền móng pháp lý cho việc tổ chức, quản lý và thực hiện các hoạt động giám định tư pháp, góp phần bảo đảm tính chính xác, khách quan trong công tác điều tra, truy tố và xét xử các vụ án.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Thông tư tập trung hướng dẫn chi tiết về tiêu chuẩn, thủ tục lựa chọn và bổ nhiệm giám định viên tư pháp; cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của các tổ chức giám định tư pháp; quy trình trưng cầu, thực hiện giám định; quyền và nghĩa vụ của giám định viên; cũng như công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động này. Đối tượng áp dụng bao gồm các cơ quan tiến hành tố tụng, các tổ chức giám định tư pháp chuyên ngành, các giám định viên tư pháp và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tố tụng.
Tiêu chuẩn và thủ tục bổ nhiệm giám định viên tư pháp
- Tiêu chuẩn chuyên môn: Người được bổ nhiệm làm giám định viên tư pháp phải có bằng tốt nghiệp đại học hoặc trình độ tương đương thuộc chuyên ngành phù hợp. Đồng thời, phải có thời gian công tác thực tế trong lĩnh vực chuyên môn được đào tạo từ 5 năm trở lên để bảo đảm đủ kinh nghiệm thực tiễn.
- Phẩm chất đạo đức: Yêu cầu bắt buộc đối với giám định viên là phải có phẩm chất đạo đức tốt, trung thực, khách quan, có tinh thần trách nhiệm cao và không thuộc các trường hợp đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị kỷ luật cảnh cáo trở lên.
- Thủ tục bổ nhiệm: Quy định rõ quy trình lập hồ sơ, thẩm định và thẩm quyền quyết định bổ nhiệm. Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ trưởng các Bộ quản lý ngành chuyên môn hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để ra quyết định bổ nhiệm và cấp thẻ giám định viên tư pháp.
Tổ chức và hoạt động của các tổ chức giám định tư pháp
- Hệ thống tổ chức: Xác định rõ mô hình tổ chức giám định tư pháp bao gồm các tổ chức giám định chuyên trách (như tổ chức pháp y, pháp y tâm thần, kỹ thuật hình sự) và các tổ chức giám định theo vụ việc thuộc các ngành kỹ thuật, tài chính, văn hóa, xây dựng.
- Cơ chế phối hợp quản lý: Bộ Tư pháp thực hiện chức năng thống nhất quản lý nhà nước về giám định tư pháp. Các Bộ, ngành chủ quản chịu trách nhiệm quản lý về mặt chuyên môn nghiệp vụ, bảo đảm trang thiết bị kỹ thuật và điều kiện làm việc cho các tổ chức giám định thuộc quyền quản lý.
Quy trình trưng cầu và thực hiện giám định tư pháp
- Quyết định trưng cầu: Việc trưng cầu giám định phải được thực hiện bằng văn bản quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án). Văn bản trưng cầu phải nêu rõ nội dung yêu cầu giám định, danh sách tài liệu, mẫu vật gửi kèm và thời hạn hoàn thành cụ thể.
- Tiếp nhận và thực hiện: Tổ chức giám định hoặc giám định viên được trưng cầu có trách nhiệm tiếp nhận, bảo quản nguyên vẹn mẫu vật và tiến hành giám định kịp thời. Quá trình giám định phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình, quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành.
- Kết luận giám định: Kết quả giám định phải được thể hiện bằng văn bản kết luận giám định tư pháp. Văn bản này phải có chữ ký của giám định viên trực tiếp thực hiện và có xác nhận bằng con dấu của tổ chức giám định. Kết luận phải khách quan, rõ ràng và trả lời đầy đủ các câu hỏi được trưng cầu.
Quyền và nghĩa vụ của giám định viên tư pháp
- Quyền hạn: Giám định viên có quyền yêu cầu cơ quan trưng cầu cung cấp đầy đủ tài liệu, mẫu vật và thông tin liên quan đến đối tượng giám định; được từ chối thực hiện giám định nếu tài liệu không đủ hoặc không bảo đảm điều kiện kỹ thuật; được bảo đảm an toàn cá nhân khi thực hiện nhiệm vụ và tham gia phiên tòa.
- Nghĩa vụ: Phải thực hiện giám định một cách độc lập, trung thực và khách quan; chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật về kết luận giám định của mình; có nghĩa vụ giải thích kết luận giám định tại phiên tòa khi có yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng; giữ bí mật thông tin vụ án.
Kinh phí và bảo đảm điều kiện hoạt động
- Chi phí giám định: Cơ quan trưng cầu giám định có trách nhiệm thanh toán chi phí giám định theo quy định của pháp luật. Chi phí này bao gồm tiền bồi dưỡng giám định, chi phí hao mòn thiết bị, vật tư tiêu hao và các chi phí thực tế hợp lý khác.
- Trang bị phương tiện: Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động và trang bị các phương tiện kỹ thuật cần thiết cho các tổ chức giám định tư pháp công lập để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm.
Hiệu lực thi hành
Thông tư 78/TT-QĐ-1989 có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây của Bộ Tư pháp và các ngành liên quan trái với Thông tư này đều bãi bỏ. Việc tổ chức thực hiện Thông tư đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa ngành Tư pháp với các cơ quan tiến hành tố tụng và các Bộ, ngành quản lý chuyên môn ở cả trung ương và địa phương.
| BỘ TƯ PHÁP | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 78/TT-QĐ | Hà Nội, ngày 26 tháng 1 năm 1989 |
Ngày 21/7/1988 Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 117/HĐBT về Giám định tư pháp; để việc thực hiện được thống nhất; căn cứ Điều 12 của Nghị định, Bộ Tư pháp ra Thông tư hướng dẫn một số điểm về tổ chức thực hiện như sau:
Là sử dụng những kiến thức, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn để kết luận về vấn đề có liên quan đến các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, các tranh chấp lao đông theo quyết định trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng nhằm phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử.
Ở nước ta, hoạt động giám định tư pháp bao gồm: giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần; giám định kỹ thuật hình sự; giám định kế toán tài chính; giám định tác phẩm văn học nghệ thuật, văn hoá phẩm nghệ thuật; giám định trong từng lĩnh vực khoa học, kỹ thuật. Chỉ xác định là giám định tư pháp khi hoạt động giám định của giám định viên được tiến hành theo quyết định trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền.
1. Tổ chức giám định tư pháp được thành lập ở cấp Trung ương và cấp tỉnh.
a. Ở cấp Trung ương, thành lập tổ chức giám định thuộc các chuyên ngành như sau:
Tổ chức giám định pháp y được thành lập ở Bộ y tế, Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng; tổ chức giám đinh pháp y tâm thần được thành lập ở Bộ Y tế; tổ chức giám định kỹ thuật hình sự được thành lập ở Bộ Nội vụ; tổ chức giám định kế toán tài chính được thành lập Bộ Tài chính; tổ chức giám định tác phẩm văn học nghệ thuật, văn hoá phẩm nghệ thuật được thành lập ở Bộ Văn hoá; tổ chức giám định trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật được thành lập ở Uỷ ban khoa học kỹ thuật Nhà nước và Bộ chuyên ngành. Việc thành lập tổ chức giám định khoa học, kỹ thuật tại các Bộ chuyên ngành cần có sự thoả thuận giữa Bộ chuyên ngành, uỷ ban khoa học kỹ thuật Nhà nước và Bộ Tư pháp.
Ở các ngành không có tổ chức giám định tư pháp, khi có quyết định trưng cầu giám định tư pháp về những vụ việc có liên quan tới chuyên môn của ngành mình, thì thủ trưởng ngành đó, thủ trưởng các ngành chuyên môn nghiệp vụ trong quân đội ở cấp Trung ương, cấp quân khu, quân chủng, quân đoàn cử người thực hiện yêu cầu giám định. Trường hợp trưng cầu đích danh người giám định thì thủ trưởng ngành cử người đó đi thực hiện giám định. Hoạt động giám định đó được coi là hoạt động giám định tư pháp.
b. Ở cấp tỉnh (tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương), thành lập tổ chức giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, giám định kế toán tài chính và các tổ chức giám định chuyên ngành khác.
2. Mỗi tổ chức giám định phải có ít nhất từ 3 giám định viên trở lên.
Căn cứ khối lượng công việc giám định tư pháp và khả năng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật chuyên ngành ở từng ngành và địa phương (cấp tỉnh) có thể thành lập một hoặc một số tổ chức giám định tư pháp đối với một chuyên ngành (lĩnh vực).
3. Tổ chức giám định tư pháp ở Trung ương thực hiện giám định các vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng ở Trung ương ra quyết định trưng cầu và giám định các vụ việc phức tạp do các cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương trưng cầu.
Tổ chức giám định tư pháp ở cấp tỉnh thực hiện giám định các vụ việc do cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương và ở Trung ương trưng cầu.
Khi tổ chức giám định tư pháp nhận được quyết định trưng cầu giám định nhưng xét thấy nội dung yêu cầu giám định vượt quá khả năng của mình, thì phải kịp thời thông báo ngay cho cơ quan trưng cầu giám định biết (chậm nhất không quá 72 giờ) kể từ khi nhận được quyết định trưng cầu: trong thông báo phải nêu rõ lý do từ chối yêu cầu giám định.
III. GIÁM ĐỊNH VIÊN VÀ GIÁM ĐỊNH VIÊN TRƯỞNG
- Ở cấp Trung ương thủ trưởng các Bộ, ngành chuyên môn ra quyết định bổ nhiệm giám định viên và giám định viên trưởng của tổ chức giám định thuộc Bộ, ngành mình sau khi có ý kiến nhất trí của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
- Ở cấp tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xét và ra quyết định bổ nhiệm giám định viên và giám định viên trưởng của các tổ chức giám định tư pháp tại địa phương theo đề nghị của thủ trưởng ngành chuyên môn cấp tỉnh và giám đốc Sở Tư pháp.
2. Tiêu chuẩn giám định viên đã được quy định tại Điều 5 của Nghị định 117/HĐBT:
a. Về phẩm chất chính trị: Giám định viên phải là người có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; trung thực, khách quan, dám đấu tranh bảo vệ tính đúng đắn của kết luận khoa học trong lĩnh vực chuyên môn; là người không có tiền án, không bị xử lý hành chính hoặc kỷ luật từ cảnh cáo trở lên và có vi phạm trong hoạt động chuyên môn thuộc lĩnh vực mà mình được bổ nhiệm làm giám định viên.
b. Về trình độ nghiệp vụ chuyên môn: giám định viên có trình độ đại học trở lên (tốt nghiệp đại học dài hạn, đại học học chuyên tu, đại học tại chức, sau đại học và trên đại học) về ngành chuyên môn thuộc lĩnh vực mà mình được bổ nhiệm làm giám định viên.
c. Thâm niên công tác về nghiệp vụ chuyên môn: Người được bổ nhiệm giám định viên phải có trình độ nghiệp vụ chuyên môn khá trở lên; đã trực tiếp làm việc, nghiên cứu ở lĩnh vực chuyên môn mà mình được bổ nhiệm ít nhất là 5 năm.
Đối với các giám định viên pháp y thuộc Bộ Y tế và các địa phương, ngoài những người đã tốt nghiệp bác sĩ pháp y có thể lựa chọn những người đã tốt nghiệp đại học y khoa mà đã có thời gian trực tiếp tham gia giám định pháp y ít nhất là 3 năm và phải được bồi dưỡng kiến thức cơ bản về giám định pháp y.
Việc lựa chọn giám định viên phải căn cứ đầy đủ vào cả 3 tiêu chuẩn đã đề ra trong Nghị định 117/HĐBT, để giám định viên tư pháp thực sự là những nhà chuyên môn có phẩm chất chính trị tốt đồng thời chuyên sâu về từng lĩnh vực khoa học nhất định.
4. Điều 11 của Nghị định 117/HĐBT đã nêu rõ nhiệm vụ, quyền hạn của giám định viên trưởng.
Giám định viên trưởng trước hết phải là giám định viên, đồng thời là người có năng lực, kinh nghiệm quản lý; giám định viên trưởng trong khi thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và nhiệm vụ quản lý giám định viên phải thường xuyên liên hệ, phối hợp với thủ trưởng trực tiếp của cơ quan, đơn vị mà các giám định viên công tác.
IV. QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP
Điều 12 của Nghị định 117/HĐBT đã ghi rõ: "Bộ Tư pháp thống nhất quản lý công tác giám định tư pháp; hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra hoạt động giám định tư pháp; bồi dưỡng kiến thức pháp lý cho giám định viên.
Ở các địa phương, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương quản lý thống nhất công tác giám định tư pháp. Để giúp Uỷ ban nhân dân và thực hiện sự uỷ nhiệm của Bộ trưởng Bộ Tư pháp. Giám đốc các Sở tư pháp tiến hành việc theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của các tổ chức giám định tư pháp trong địa phương. Trong khi thực hiện việc quản lý tổ chức giám định tư pháp, Giám đốc Sở Tư pháp phối hợp chặt chẽ với Thủ trưởng các ngành chuyên môn; tạo điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các tổ chức giám định và bảo đảm chế độ, chính sách đối với giám định viên, đồng thời thường xuyên tổ chức việc bồi dưỡng kiến thực pháp lý cho giám định viên.
Giám định tư pháp là một lĩnh vực hoạt động chuyên môn phức tạp đòi hỏi tính khoa học cao; do vậy để triển khai thực hiện Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng về công tác giám định tư pháp, được thuận lợi, cần có sự quan tâm chỉ đạo chặt chẽ của các cơ quan, các ngành và các địa phương. Việc thành lập các tổ chức giám định tư pháp cần tiến hành khẩn trương, bảo đảm chất lượng, để kịp thời phục vụ việc thi hành Bộ luật tố tụng hình sự.
Ở các địa phương, trước mắt cần sớm thành lập tổ chức giám định pháp y, giám định kế toán tài chính. Địa phương nào có điều kiện thì thành lập tổ chức giám định pháp y tâm thần và từng bước thành lập các tổ chức giám định chuyên ngành khác. Địa phương nào đã có tổ chức giám định pháp y thì phải tổ chức lại theo đúng Nghị định 117/HĐBT và hướng dẫn của Thông tư này.
Trong quá trình thực hiện Nghị định 117/HĐBT có gì vướng mắc thủ trưởng các ngành ở Trung ương và Uỷ ban nhân dân các địa phương trực tiếp thông báo kịp thời về Bộ Tư pháp.
| Trần Đông (Đã ký) |
- 1 Quyết định 241/QĐ-BTP-2007 công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Tư pháp ban hành và Liên tịch ban hành từ năm 1981 đến nay hết hiệu lực do Bộ trưởng Bộ Tư Pháp ban hành
- 2 Quyết định 480/QĐ-BTP công bố kết quả hệ thống hóa văn bản thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp đến hết ngày 31/12/2013
- 1 Quyết định 241/QĐ-BTP-2007 công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Tư pháp ban hành và Liên tịch ban hành từ năm 1981 đến nay hết hiệu lực do Bộ trưởng Bộ Tư Pháp ban hành
- 2 Luật giám định tư pháp 2012
- 3 Quyết định 480/QĐ-BTP công bố kết quả hệ thống hóa văn bản thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp đến hết ngày 31/12/2013
- 1 Quyết định 241/QĐ-BTP-2007 công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Tư pháp ban hành và Liên tịch ban hành từ năm 1981 đến nay hết hiệu lực do Bộ trưởng Bộ Tư Pháp ban hành
- 2 Quyết định 480/QĐ-BTP công bố kết quả hệ thống hóa văn bản thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Tư pháp đến hết ngày 31/12/2013