Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Phạt nguội vi phạm giao thông tra cứu ở đâu
  • search Quy định về thời giờ làm việc và nghỉ ngơi
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định 123/2004/NĐ-CP do Chính phủ ban hành quy định về một số cơ chế tài chính ngân sách đặc thù đối với Thủ đô Hà Nội nhằm tạo ra các giải pháp tài chính linh hoạt, ưu tiên nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ cho Thủ đô.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động quản lý, phân cấp ngân sách, huy động vốn đầu tư phát triển và tiếp nhận viện trợ trên địa bàn Thủ đô Hà Nội.

Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và quản lý quỹ đất

  • Nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách Thủ đô Hà Nội được phân cấp theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Ủy ban nhân dân (UBND) Thành phố có trách nhiệm trình Hội đồng nhân dân (HĐND) Thành phố quyết định phân cấp cụ thể giữa các cấp ngân sách trực thuộc (thành phố, quận, huyện, phường, xã) phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Riêng đối với ngân sách xã, thị trấn thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước.
  • Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên đầu tư về ngân sách và các nguồn tài chính khác nhằm phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm Hà Nội thực hiện tốt vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế, xã hội của cả nước.
  • Hàng năm, dựa trên dự toán ngân sách được Thủ tướng Chính phủ giao và hướng dẫn từ Bộ Tài chính, UBND Thành phố trình HĐND Thành phố quyết định dự toán thu, chi ngân sách; phân bổ nhiệm vụ thu, chi cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc và quyết định số bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới.
  • Để nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ đất do Thành phố quản lý, UBND Thành phố được phép tạm ứng từ nguồn ngân sách hoặc nguồn vốn huy động hợp pháp để thực hiện các dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật. Sau khi tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất thành công, Thành phố sẽ thu hồi để hoàn trả lại ngân sách hoặc hoàn trả nguồn vốn đã huy động.

Tỷ lệ phân chia nguồn thu và cơ chế thưởng vượt thu ngân sách

  • Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách Thành phố do Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định. Thời gian ổn định tỷ lệ phân chia này do Chính phủ trình Quốc hội quyết định.
  • Trong trường hợp có số tăng thu ngân sách trung ương so với dự toán được Thủ tướng Chính phủ giao từ các khoản thu phân chia giữa trung ương và địa phương, ngân sách Hà Nội được thưởng 30% của số tăng thu này, nhưng mức thưởng tối đa không vượt quá số tăng thu thực tế so với năm trước.
  • Ngân sách trung ương thực hiện bổ sung có mục tiêu cho Hà Nội tương ứng với toàn bộ số tăng thu ngân sách trung ương so với dự toán đối với các khoản thu phân chia còn lại (sau khi đã trừ khoản thưởng vượt thu 30%) và các khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100% phát sinh trên địa bàn. Cơ chế này loại trừ thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa nhập khẩu, các khoản thu không giao Thành phố quản lý, các khoản hạch toán ghi thu ghi chi và các khoản thu được để lại đơn vị chi quản lý qua ngân sách nhà nước.
  • Căn cứ vào số tiền thưởng và số bổ sung có mục tiêu từ nguồn tăng thu, UBND Thành phố trình HĐND Thành phố quyết định sử dụng cho các mục đích: đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, thanh toán các khoản nợ huy động, thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh trật tự và thưởng cho ngân sách cấp dưới.

Ưu tiên nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

  • Chính phủ ưu tiên bố trí nguồn vốn ODA cho Thủ đô Hà Nội để đầu tư vào các chương trình, dự án xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, bảo vệ môi trường và các công trình phúc lợi công cộng.
  • Nguyên tắc bố trí vốn đối ứng cho các dự án ODA được quy định rõ: Đối với dự án do các Bộ, cơ quan trung ương làm chủ đầu tư thì ngân sách trung ương bảo đảm vốn đối ứng; đối với dự án do UBND Thành phố làm chủ đầu tư thì Thành phố có trách nhiệm tự cân đối từ ngân sách địa phương để bảo đảm phần vốn đối ứng.
  • Đối với các dự án ODA theo hình thức vay về cho vay lại, ưu tiên bố trí vốn cho các dự án đầu tư có khả năng thu hồi vốn trực tiếp hoặc các dự án sản xuất hàng xuất khẩu có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.
  • Mức bố trí cụ thể về vốn ODA và vốn thực hiện các chương trình, dự án cho Hà Nội được cân đối trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm do Chính phủ trình Quốc hội quyết định.

Cơ chế huy động vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng

  • Hà Nội được phép huy động vốn đầu tư trong nước thông qua việc phát hành trái phiếu chính quyền địa phương và các hình thức huy động hợp pháp khác; ngân sách Thành phố có trách nhiệm cân đối để thanh toán đầy đủ nợ gốc, lãi và các chi phí liên quan khi đến hạn.
  • Thành phố được huy động vốn vay nước ngoài để đầu tư phát triển hạ tầng thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương. UBND Thành phố chủ động xây dựng phương án, tìm kiếm nguồn vay, lấy ý kiến thống nhất của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định theo cơ chế Chính phủ vay về cho Thành phố vay lại.
  • Tổng dư nợ từ các nguồn vốn huy động (trong nước và ngoài nước) của Thành phố không được vượt quá 100% tổng mức vốn ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách Thành phố do HĐND quyết định hàng năm. Giới hạn này không bao gồm các nguồn vốn huy động đầu tư dự án theo luật định khác và vốn bổ sung có mục tiêu không ổn định từ ngân sách trung ương.
  • Quy trình huy động vốn yêu cầu UBND Thành phố lập phương án cụ thể trình HĐND Thành phố quyết định. Các công trình, dự án sử dụng vốn huy động phải bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội, nằm trong danh mục kế hoạch đầu tư 5 năm đã được HĐND thông qua và đã có quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền.

Đa dạng hóa các hình thức đầu tư và tiếp nhận viện trợ

  • Đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn ngoài phạm vi đầu tư công trực tiếp, UBND Thành phố quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định huy động đầu tư theo các hình thức BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao), BTO (xây dựng - chuyển giao - vận hành), BT (xây dựng - chuyển giao) và các hình thức khác. Thành phố được áp dụng các giải pháp tài chính hỗ trợ lãi suất vay vốn hoặc bù một phần chênh lệch giữa chi phí và giá dịch vụ theo quy định.
  • UBND Thành phố Hà Nội được quyền quyết định tiếp nhận các khoản viện trợ không hoàn lại cho địa phương mà không bị giới hạn bởi quy mô khoản viện trợ. Riêng đối với các khoản viện trợ liên quan đến lĩnh vực tôn giáo, quốc phòng, an ninh, Thành phố phải báo cáo và được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ trước khi tiếp nhận.
  • Chủ tịch UBND Thành phố chịu trách nhiệm toàn diện trong việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng hiệu quả các khoản viện trợ, thực hiện hạch toán quyết toán đúng quy định và định kỳ báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Hiệu lực thi hành và hướng dẫn thực hiện

  • Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn tổ chức thực hiện các quy định tại Nghị định này. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch HĐND và Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội có trách nhiệm thi hành.
  • Những nội dung quản lý ngân sách nhà nước khác không được quy định cụ thể tại Nghị định này sẽ được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ.
  • Nghị định 123/2004/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 123/2004/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2004

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 123/2004/NĐ-CP NGÀY 18 THÁNG 5 NĂM 2004 QUY ĐỊNH VỀ MỘT SỐ CƠ CHẾ TÀI CHÍNH NGÂN SÁCH ĐẶC THÙ ĐỐI VỚI THỦ ĐÔ HÀ NỘI

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước ngày 16 tháng 12 năm 2002;
Căn cứ Pháp lệnh Thủ đô ngày 28 tháng 12 năm 2000 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ công văn số 212 NQ/UBTVQH11 ngày 22 tháng 3 năm 2004 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1:

VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI

Điều 1.

1. Nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách Thủ đô Hà Nội được phân cấp theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Uỷ ban nhân dân Thành phố trình Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi cụ thể giữa ngân sách các cấp thuộc thành phố (thành phố, quận, huyện, phường, xã) theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và phù hợp với tình hình thực tế, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội của Thành phố. Riêng đối với ngân sách xã, thị trấn thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 34 Luật Ngân sách Nhà nước.

Nhà nước ưu tiên đầu tư về ngân sách và các nguồn tài chính khác nhằm phát triển kinh tế - xã hội Thành phố để Thành phố thực hiện vai trò trung tâm chính trị - kinh tế - xã hội của khu vực và cả nước.

2. Hàng năm, căn cứ vào dự toán ngân sách được Thủ tướng Chính phủ giao và hướng dẫn của Bộ Tài chính, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội trình Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định: Dự toán thu, chi ngân sách Thành phố; phân bổ nhiệm vụ thu, chi cho từng cơ quan, đơn vị thuộc ngân sách cấp Thành phố; số bổ sung từ ngân sách Thành phố cho ngân sách cấp dưới phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố và bảo đảm thực hiện theo định hướng chung của ngân sách nhà nước.

3. Để sử dụng có hiệu quả quỹ đất thuộc Thành phố quản lý, Uỷ ban nhân dân Thành phố được tạm ứng từ nguồn ngân sách Thành phố hoặc từ nguồn huy động theo chế độ quy định cho các dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật thuộc nhiệm vụ đầu tư của ngân sách để tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất, sau khi thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất sẽ thu hồi hoàn trả ngân sách hoặc hoàn trả nguồn vốn huy động.

Điều 2. Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu được phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách Thành phố do Chính phủ trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định; thời gian ổn định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia do Chính phủ trình Quốc hội quyết định.

Điều 3.

1. Hàng năm, trong trường hợp có số tăng thu ngân sách trung ương so với dự toán Thủ tướng Chính phủ giao từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách Thành phố theo quy định tại khoản 2 Điều 30 Luật Ngân sách Nhà nước, ngân sách thành phố được thưởng 30% của số tăng thu này, nhưng không vượt quá số tăng thu so với mức thực hiện năm trước.

2. Ngân sách trung ương bổ sung có mục tiêu cho Thành phố tương ứng toàn bộ số tăng thu ngân sách trung ương so với dự toán đã được Thủ tướng Chính phủ giao đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách Thành phố còn lại (sau khi thực hiện thưởng vượt thu theo quy định tại khoản 1 Điều này) và mức tương ứng toàn bộ số tăng thu so với dự toán đã được Thủ tướng Chính phủ giao của các khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100%, không kể khoản thu : thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu; các khoản thu không giao Thành phố quản lý thu, không phát sinh trên địa bàn thành phố Hà Nội mà chỉ hạch toán nộp ở thành phố Hà nội; các khoản hạch toán ghi thu, ghi chi và các khoản thu được để lại đơn vị chi quản lý qua ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

3. Căn cứ số thưởng và số bổ sung có mục tiêu từ nguồn tăng thu quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, Uỷ ban nhân dân Thành phố trình Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định: đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng; trả nợ các khoản huy động; thực hiện các nhiệm vụ quan trọng nhằm phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội của Thủ đô và thưởng cho ngân sách cấp dưới.

Chương 2:

VỀ HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THỦ ĐÔ HÀ NỘI

Điều 4.

1. Chính phủ ưu tiên bố trí vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) cho Thủ đô để đầu tư các chương trình, dự án xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, môi trường và phúc lợi công cộng.

2. Việc bố trí vốn đầu tư cho các dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được thực hiện theo nguyên tắc:

a) Đối với dự án ODA do ngân sách đầu tư:

- Đối với dự án, công trình do Bộ, cơ quan trung ương làm chủ dự án, công trình, việc bố trí vốn (bao gồm cả vốn đối ứng) do ngân sách trung ương bảo đảm.

- Đối với dự án, công trình do Uỷ ban nhân dân Thành phố làm chủ dự án, Thành phố có trách nhiệm bố trí từ nguồn ngân sách Thành phố để bảo đảm phần vốn đối ứng của dự án, công trình.

b) Đối với dự án ODA vay về cho vay lại, ưu tiên bố trí vốn cho các dự án đầu tư có khả năng thu hồi vốn, các dự án sản xuất các mặt hàng xuất khẩu có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.

3. Mức bố trí cụ thể về vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn thực hiện các chương trình, dự án cho thành phố Hà Nội được cân đối trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm do Chính phủ trình Quốc hội quyết định.

Điều 5.

1. Thành phố Hà Nội được huy động vốn đầu tư trong nước thông qua các hình thức phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, các hình thức huy động khác theo quy định của pháp luật; ngân sách Thành phố có trách nhiệm thanh toán gốc, lãi và các chi phí liên quan.

2. Thành phố Hà Nội được huy động vốn vay ngoài nước cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách Thành phố theo nguyên tắc: Uỷ ban nhân dân Thành phố xây dựng phương án, tìm nguồn vay, lấy ý kiến các Bộ: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định theo cơ chế Chính phủ vay về cho Thành phố vay lại để thực hiện các dự án, công trình theo đề nghị của Uỷ ban nhân dân Thành phố. Thành phố có trách nhiệm bố trí vốn từ ngân sách Thành phố để hoàn trả gốc, lãi theo quy định của pháp luật.

3. Tổng dư nợ các nguồn vốn huy động cho đầu tư các dự án, công trình thuộc nhiệm vụ đầu tư của ngân sách Thành phố tại khoản 1, khoản 2 Điều này không vượt quá 100% tổng mức vốn ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách Thành phố theo dự toán Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định hàng năm (không bao gồm nguồn vốn huy động đầu tư các dự án theo quy định của pháp luật, vốn đầu tư các dự án từ nguồn bổ sung có mục tiêu không ổn định từ ngân sách trung ương cho ngân sách Thành phố (nếu có)).

Điều 6. Việc huy động vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách thành phố quy định tại Điều 5 của Nghị định này được thực hiện như sau:

1. Khi có nhu cầu huy động vốn đầu tư, Uỷ ban nhân dân thành phố lập phương án trình Hội đồng nhân dân thành phố quyết định theo quy định của pháp luật.

2. Vốn huy động đầu tư cho các công trình, dự án bảo đảm các nguyên tắc: công trình, dự án sử dụng vốn huy động đầu tư phải bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội; công trình, dự án đầu tư thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5 năm đã được Hội đồng nhân dân Thành phố quyết định; công trình, dự án đã có quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền. Thành phố phải bố trí cân đối ngân sách địa phương trả hết nợ khi đến hạn.

Điều 7. Ngoài nguồn vốn huy động cho các công trình, dự án thuộc đối tượng đầu tư từ nguồn vốn ngân sách theo quy định tại Điều 5 Nghị định này, đối với các dự án khác có khả năng thu hồi vốn, Uỷ ban nhân dân Thành phố quyết định hoặc trình cơ quan có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật việc huy động đầu tư theo các hình thức: BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao), BTO (xây dựng - chuyển giao - vận hành), BT (xây dựng - chuyển giao) và các hình thức khác. Thực hiện các giải pháp tài chính hỗ trợ lãi suất vay vốn đầu tư, bù một phần chênh lệch giữa chi phí và giá dịch vụ theo quy định của pháp luật.

Điều 8. Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội được quyền quyết định tiếp nhận các khoản viện trợ không hoàn lại cho Thành phố không phụ thuộc vào quy mô khoản viện trợ; riêng đối với các khoản viện trợ có liên quan đến tôn giáo, quốc phòng, an ninh phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố chịu trách nhiệm thực hiện tiếp nhận, quản lý, sử dụng có hiệu quả các khoản viện trợ này, thực hiện chế độ hạch toán quyết toán theo đúng quy định của pháp luật; định kỳ báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư để theo dõi, giám sát và tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Chương 3:

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 9.

1. Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn tổ chức thực hiện Nghị định này.

2. Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Điều 10.

1. Những nội dung khác về thực hiện ngân sách nhà nước không quy định tại Nghị định này, thực hiện theo Luật Ngân sách Nhà nước và Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách Nhà nước.

2. Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Phan Văn Khải

(Đã ký)

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 123/2004/NĐ-CP quy định về một số cơ chế tài chính ngân sách đặc thù đối với Thủ đô Hà Nội

Số hiệu: 123/2004/NĐ-CP
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 18/05/2004
Nơi ban hành: Chính phủ
Người ký: Phan Văn Khải
Ngày công báo: 26/05/2004
Số công báo: Số 18
Ngày hiệu lực: 10/06/2004
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Tài chính nhà nước
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 123/2004/NĐ-CP quy định về một số c...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký