Nghị định số 160-HĐBT được ban hành năm 1984 bởi Hội đồng Bộ trưởng nhằm thống nhất quản lý các loại đặc sản rừng trên phạm vi cả nước, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu lâm sản có giá trị kinh tế cao.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Nghị định này áp dụng đối với hoạt động quản lý, bảo vệ, khai thác, thu mua, chế biến và kinh doanh các loại đặc sản rừng thuộc danh mục do Nhà nước quy định. Đối tượng áp dụng bao gồm Bộ Lâm nghiệp, các tổ chức lâm nghiệp nhà nước ở trung ương và địa phương, Ủy ban nhân dân các cấp, các tổ chức tập thể, hộ gia đình và cá nhân tham gia vào chuỗi sản xuất, kinh doanh đặc sản rừng.
Thống nhất nguyên tắc quản lý đặc sản rừng của Nhà nước
- Toàn bộ các loại đặc sản rừng nằm trong danh mục kèm theo Nghị định đều do Nhà nước thống nhất quản lý.
- Bộ Lâm nghiệp cùng các tổ chức lâm nghiệp nhà nước tại địa phương chịu trách nhiệm trước Hội đồng Bộ trưởng hoặc Ủy ban nhân dân cùng cấp trong việc thực hiện công tác quản lý thống nhất này.
Nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Bộ Lâm nghiệp
- Trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định quy hoạch, kế hoạch, phương hướng phát triển đặc sản rừng; thực hiện phân công, phân cấp quản lý giữa các ngành từ trung ương đến địa phương và đề xuất các chính sách, chế độ khuyến khích phát triển sản xuất.
- Xây dựng và trực tiếp quản lý hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ kỹ thuật; tổ chức nghiên cứu khoa học - kỹ thuật và đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên môn phục vụ ngành đặc sản rừng.
- Trực tiếp quản lý một số lâm trường, trạm trại thực nghiệm tại các vùng đặc sản rừng tập trung để làm nòng cốt bảo vệ, phát triển sản xuất và hỗ trợ các địa phương xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh đặc sản rừng.
- Tổ chức thu mua, chế biến đặc sản rừng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu; trực tiếp tổ chức, chỉ đạo hoạt động xuất khẩu theo kế hoạch nhà nước dưới sự quản lý nhà nước của Bộ Ngoại thương.
Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố
- Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch và chính sách chung của Nhà nước để tổ chức, chỉ đạo các cơ sở quốc doanh lâm nghiệp địa phương; đồng thời vận động, hướng dẫn các tổ chức tập thể và hộ gia đình thực hiện việc quản lý, bảo vệ, phát triển đặc sản rừng trên địa bàn quản lý.
- Tổ chức các đơn vị sản xuất, thu mua, chế biến đặc sản rừng theo hướng dẫn của Bộ Lâm nghiệp nhằm cung cấp cho nhu cầu nội địa và xuất khẩu (thông qua hình thức xuất khẩu trực tiếp hoặc ủy thác cho tổ chức xuất khẩu của Trung ương).
Các chính sách hỗ trợ và đòn bẩy kinh tế
- Cơ quan kế hoạch có trách nhiệm cân đối, cung cấp đầy đủ vật tư, thiết bị, hàng tiêu dùng (bao gồm cả lương thực) cho các tổ chức xuất khẩu đặc sản rừng của Trung ương và địa phương để làm hàng đối lưu phục vụ công tác thu mua.
- Cho phép các tổ chức xuất khẩu đặc sản rừng được trích lại một phần ngoại tệ thu được từ hoạt động xuất khẩu để nhập khẩu vật tư, thiết bị chuyên ngành hoặc các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu nhằm phát triển sản xuất và nâng cao đời sống cho người lao động trực tiếp.
- Bộ Lâm nghiệp phối hợp với Ủy ban Vật giá Nhà nước và Bộ Tài chính nghiên cứu, trình Chính phủ bổ sung các chính sách về giá cả và chế độ thu tiền nuôi rừng nhằm khuyến khích mạnh mẽ các địa phương, cơ sở và người dân tham gia sản xuất, kinh doanh đặc sản rừng.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm tổ chức thực hiện
- Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành.
- Bãi bỏ các văn bản trước đây trái với Nghị định này, bao gồm: Quyết định số 133-CP ngày 14-9-1963, Chỉ thị số 210-TTg ngày 6-12-1966, Chỉ thị số 123-TTg ngày 22-2-1978 và các quy định khác về quản lý, kinh doanh đặc sản rừng không còn phù hợp.
- Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước, Bộ trưởng các Bộ Tài chính, Y tế, Nội thương, Ngoại thương, Thủ trưởng các ngành liên quan ở Trung ương và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 160-HĐBT | Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 1984 |
CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 160-HĐBT NGÀY 10-12-1984 VỀ VIỆC THỐNG NHẤT QUẢN LÝ CÁC LOẠI ĐẶC SẢN RỪNG
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4-7-1981;
Căn cứ Nghị định số 35-CP ngày 9-2-1981 quy định trách nhiệm, quyền hạn của các Bộ trong một số lĩnh vực quản lý Nhà nước;
Để thống nhất việc bảo vệ, chăm sóc, nuôi trồng, khai thác chế biến các loại đặc sản rừng theo hướng tập trung, chuyên sâu nhằm phát triển mạnh mẽ các loại đặc sản rừng, cung ứng ngày càng nhiều cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp.
NGHỊ ĐỊNH :
Bộ Lâm nghiệp và các tổ chức lâm nghiệp của Nhà nước ở các địa phương chịu trách nhiệm trước Hội đồng Bộ trưởng hoặc Uỷ ban Nhân dân cùng cấp thực hiện việc thống nhất quản lý các loại đặc sản rừng nói trên.
Điều 2 - Bộ Lâm nghiệp có trách nhiệm:
1. Trình Hội đồng Bộ trưởng quyết định quy hoạch, kế hoạch và phương hướng phát triển các loại đặc sản rừng; việc phân công, phân cấp giữa các ngành ở trung ương và địa phương trong việc quản lý các loại đặc sản rừng; các chính sách, chế độ nhằm khuyến khích việc phát triển các loại đặc sản rừng.
2. Xây dựng và quản lý hệ thống tổ chức sản xuất, kinh doanh và dịch vụ kỹ thuật; tổ chức nghiên cứu khoa học - kỹ thuật; đào tạo đội ngũ cán bộ phục vụ cho công tác bảo vệ và phát triển sản xuất, kinh doanh đặc sản rừng.
3. Trực tiếp quản lý một số lâm trường, trạm trại thực nghiệm ở những vùng đặc sản rừng tập trung để làm nòng cốt trong việc bảo vệ và phát triển sản xuất, kinh doanh đặc sản rừng và giúp đỡ các địa phương tổ chức các cơ sở sản xuất, kinh doanh đặc sản rừng ở địa phương.
4. Tổ chức việc thu mua, chế biến các loại đặc sản rừng để cung ứng cho các nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Trực tiếp tổ chức và chỉ đạo việc xuất khẩu các đặc sản rừng theo kế hoạch Nhà nước và chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Ngoại thương.
- Tổ chức, chỉ đạo các cơ sở quốc doanh lâm nghiệp địa phương, vận động, hướng dẫn các tổ chức tập thể và hộ gia đình thực hiện việc quản lý, bảo vệ và phát triển các loại đặc sản rừng trên địa bàn tỉnh, thành phố.
- Theo sự hướng dẫn của Bộ Lâm nghiệp, tổ chức các đơn vị sản xuất, thu mua, chế biến các loại đặc sản rừng để cung cấp cho các nhu cầu trong nước và xuất khẩu (hoặc xuất khẩu trực tiếp hoặc uỷ thác cho tổ chức xuất khẩu đặc sản rừng của Trung ương).
Điều 4 - Để đẩy mạnh việc phát triển sản xuất, kinh doanh các loại đặc sản rừng:
- Cơ quan kế hoạch có trách nhiệm cân đối cho tổ chức xuất khẩu đặc sản rừng trực thuộc Bộ Lâm nghiệp và các tổ chức xuất khẩu đặc sản rừng của địa phương những vật tư, thiết bị, hàng tiêu dùng cần thiết (kể cả lương thực) để làm hàng đối lưu, thu mua các loại đặc sản rừng.
- Cho phép các tổ chức xuất khẩu đặc sản rừng của Trung ương và địa phương được trích một phần ngoại tệ thu được do xuất khẩu đặc sản rừng để nhập khẩu vật tư, thiết bị hoặc một số mặt hàng tiêu dùng thiết yếu phục vụ cho việc phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của người sản xuất đặc sản rừng.
- Bộ Lâm nghiệp phối hợp với Uỷ ban Vật giá Nhà nước và Bộ Tài chính nghiên cứu trình Chính phủ bổ sung chính sách giá cả và chế độ thu tiền nuôi rừng theo hướng khuyến khích mạnh mẽ các địa phương, cơ sở và người sản xuất, kinh doanh các loại đặc sản rừng.
| Tố Hữu (Đã ký) |
DANH MỤC
CÁC LOẠI ĐẶC SẢN RỪNG ĐƯỢC QUẢN LÝ THỐNG NHẤT THEO NGÀNH
(Kèm theo Nghị định số 160-HĐBT ngày 10-12-1984 của Hội đồng Bộ trưởng)
I. HỆ CÂY RỪNG
1. Nhóm cây rừng cho nhựa, tinh dầu, ta nanh như thông, quế, hồi, trẩu, tràm, đước, vẹt, trám, bạch đàn, bồ đề...
2. Nhóm cây rừng cho dược liệu như ba kích, sa nhân, thiên niên kiện, thảo quả, hà thủ ô, đẳng sâm, kỳ, hoằng đẳng v.v...
3. Nhóm cây rừng cho nguyên liệu làm các loại hàng tiểu thủ công và mỹ nghệ như song, mây, tre, trúc, lá buông...
4. Các sản phẩm công nghiệp được chế biến từ nguyên liệu các loại cây rừng như cánh kiến, xen lắc, dầu thông, tùng hương, tùng tiêu, dầu trong, chai cục.
II. HỆ ĐỘNG VẬT RỪNG
1. Bao gồm các nhóm động vật rừng cho da, lông, xương, ngà, thịt, xạ, mật, dược liệu như voi, hổ, báo, gấu, trâu rừng, bò rừng, hươu, nai, trăn, rắn, kỳ đà, tắc kè, khỉ, vượn, nhím, ong rừng, các chim quý; các nhóm động vật rừng có đặc dụng khác.
2. Các sản phẩm được chế biến từ nguyên liệu do các loại động vật rừng nói trên cung cấp.