Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định 182-TTg ban hành năm 1958 do Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định về chế độ tiền lương mới áp dụng cho khu vực sản xuất nhằm cải thiện đời sống cho công nhân, viên chức, khuyến khích sản xuất và từng bước thống nhất chế độ tiền lương theo nguyên tắc phân phối theo lao động xã hội chủ nghĩa.

Phạm vi và đối tượng áp dụng

Nghị định này áp dụng đối với công nhân, nhân viên kỹ thuật và nhân viên hành chính, quản lý (bao gồm cả công nhân, viên chức lưu dụng giữ nguyên lương) hiện đang công tác tại các xí nghiệp Nhà nước thuộc khu vực sản xuất.

Mục tiêu của chế độ lương mới

  • Cải thiện một phần đời sống cho công nhân, cán bộ, viên chức nhằm khuyến khích tăng năng suất lao động và hoàn thành kế hoạch Nhà nước.
  • Thống nhất chế độ lương, xóa bỏ tính chất bình quân và các điểm bất hợp lý trong hệ thống tiền lương cũ, hướng tới nguyên tắc phân phối theo lao động.
  • Kế hoạch hóa quỹ tiền lương thông qua việc lập quỹ lương và quỹ xã hội riêng biệt để quản lý chặt chẽ.

Hệ thống thang lương và mức lương tối thiểu

  • Thang lương công nhân cơ khí xí nghiệp: Gồm 8 bậc, áp dụng cho công nhân cơ khí trong các xí nghiệp của Nhà nước.
  • Thang lương nhân viên kỹ thuật: Gồm 14 bậc, áp dụng cho nhân viên thực tế làm công tác kỹ thuật tại các xí nghiệp và cơ quan Nhà nước.
  • Các ngành sản xuất khác: Công nhân ngành mỏ, địa chất, kiến thiết cơ bản, lái xe vận tải, công nghiệp nhẹ, thổ mộc, nông - lâm trường quốc doanh được xếp vào các thang lương riêng do các Bộ chủ quản xây dựng dựa trên thang lương cơ khí 8 bậc và được Bộ Lao động, Ban Lương trung ương thông qua.
  • Nhân viên hành chính, quản lý xí nghiệp: Được xếp vào thang lương riêng dựa trên thang lương công nhân sản xuất cùng ngành và tình hình chung của cơ quan hành chính Nhà nước.
  • Mức lương tối thiểu và giới hạn tối đa: Lương thấp nhất được ấn định là 27.300 đồng/tháng. Lương cao nhất của công nhân cơ khí gấp 3,16 lần mức tối thiểu; của nhân viên kỹ thuật gấp 5,31 lần mức tối thiểu; và của nhân viên hành chính, quản lý không được vượt quá 5 lần mức tối thiểu.

Phân loại sản nghiệp và khu vực lương

  • Phân loại xí nghiệp công nghiệp: Chia làm 3 loại sản nghiệp dựa trên tầm quan trọng, độ phức tạp kỹ thuật và điều kiện lao động:
    • Loại I: Ngành khai thác mỏ than và các khoáng sản khác.
    • Loại II: Ngành điện lực, cơ khí, sản xuất vật liệu xây dựng.
    • Loại III: Các ngành công nghiệp nhẹ.
  • Phụ cấp khu vực: Được điều chỉnh dựa trên điều kiện công tác khó khăn, khí hậu, vật giá và yêu cầu thu hút lao động với các định suất cụ thể:
    • Khu vực đặc biệt: Hưởng phụ cấp bằng 35% lương cấp bậc.
    • Khu vực I: Hưởng phụ cấp bằng 25% lương cấp bậc.
    • Khu vực II: Hưởng phụ cấp bằng 20% lương cấp bậc.
    • Khu vực III: Hưởng phụ cấp bằng 12% lương cấp bậc.
    • Khu vực IV: Hưởng phụ cấp bằng 10% lương cấp bậc.
    • Khu vực V: Hưởng phụ cấp bằng 6% lương cấp bậc.

Bãi bỏ các khoản phụ cấp cũ và cải cách chế độ bán cung cấp

  • Bãi bỏ các khoản phụ cấp thường xuyên về hao mòn sức khỏe (do đã được tính gộp vào mức lương cấp bậc mới).
  • Bãi bỏ phụ cấp kỹ thuật hiện hành đối với nhân viên kỹ thuật thuộc thang lương 14 bậc.
  • Xóa bỏ dần chế độ bán cung cấp: Người ở nhà tập thể phải trả tiền điện, nước và tiền nhà theo tiêu chuẩn sử dụng; chế độ ăn tập thể chuyển dần sang hình thức phúc lợi tập thể.
  • Bãi bỏ chế độ phụ cấp con hiện hành. Thay vào đó, thiết lập khoản trợ cấp khó khăn trị giá 5.000 đồng/tháng cho mỗi con từ thứ ba trở đi dưới 16 tuổi (hoặc dưới 18 tuổi nếu còn đi học).

Thành lập Quỹ xã hội và phương thức trả lương

  • Thành lập Quỹ xã hội: Nhằm đài thọ các khoản trợ cấp xã hội như sinh đẻ, gia đình đông con, ốm đau, thương tật, hưu trí hoặc tử tuất.
  • Hình thức trả lương: Công nhân sản xuất được hưởng lương tính theo ngày. Bộ Lao động chịu trách nhiệm điều chỉnh và mở rộng từng bước chế độ lương theo sản phẩm.
  • Tiêu chuẩn kỹ thuật: Bộ Lao động ban hành nguyên tắc xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật tiêu biểu cho công nhân cơ khí làm căn cứ cho các ngành khác xây dựng tiêu chuẩn riêng.

Quy định chuyển tiếp và hiệu lực thi hành

  • Hiệu lực thi hành: Nghị định có hiệu lực áp dụng từ ngày 01 tháng 03 năm 1958 đối với công nhân, nhân viên kỹ thuật, nhân viên hành chính và quản lý tại các xí nghiệp Nhà nước. Đối với đối tượng làm việc trong cơ quan hành chính và sự nghiệp, ngày áp dụng sẽ do nghị định sau quy định.
  • Bảo đảm quyền lợi chuyển tiếp: Trường hợp mức lương mới (gồm lương chính, phụ cấp khu vực, trợ cấp con) thấp hơn mức lương cũ đang lĩnh, người lao động sẽ được bù khoản tiền chênh lệch này.
  • Thay thế văn bản cũ: Nghị định này thay thế Nghị định số 650-TTg ngày 30 tháng 12 năm 1955 đối với những đối tượng được áp dụng chế độ lương mới.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
******

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 182-TTg

Hà Nội, ngày 07 tháng 04 năm 1958

NGHỊ ĐỊNH

QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ LƯƠNG CHO KHU VỰC SẢN XUẤT

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Chiếu Nghị định số 650-TTg ngày 30 tháng 12 năm 1955 đặt các thang lương của cán bộ, công nhân và nhân viên các cơ quan và xí nghiệp Nhà nước;
Căn cứ Nghị quyết Hội đồng Chính phủ họp ngày 17, 18 tháng 03 năm 1958 ấn định các nguyên tắc, yêu cầu và phương châm cải tiến chế độ tiền lương và tăng lương trong năm 1958 cho cán bộ, công nhân và viên chức các cơ quan xí nghiệp Nhà nước;

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. - Để đạt ba mục đích:

a) Cải thiện một phần đời sống cho công nhân cán bộ, viên chức; khuyến khích mọi người ra sức đẩy mạnh sản xuất và công tác phấn đấu thực hiện kế hoạch Nhà nước;

b) Căn bản thống nhất chế độ lương, giảm bớt tính chất bình quân và những điểm không hợp lý trong chế độ tiền lương hiện hành, dần dần thực hiện chế độ tiền lương xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc phân phối theo lao động;

c) Bước đầu kế hoạch hóa quỹ tiền lương, lập quỹ lương riêng, quỹ xã hội riêng, tiến tới quản lý chặtchẽ quỹ lương;

Nay quy định chế độ lương cho khu vực sản xuất như sau:

Điều 2. – Nay đặt hai thang lương sau đây:

1) Thang lương của công nhân cơ khí xí nghiệp gồm 8 bậc, để sắp xếp công nhân cơ khí làm việc trong các xí nghiệp của Nhà nước;

2) Thang lương nhân viên kỹ thuật gồm 14 bậc để sắp xếp những nhân viên kỹ thuật thực sự làm công tác kỹ thuật trong các xí nghiệp và cơ quan Nhà nước.

………………………………………………………………………………………

Điều 3. – Các công nhân khác như công nhân chuyên nghiệp các ngành mỏ, địa chất, kiến thiết cơ bản, lái xe vận tải, công nhân các nghề thuộc công nghiệp nhẹ, các nghề thổ mộc, công nhân nông trường, lâm trường quốc doanh, v.v… được sắp xếp vào các thang lương riêng do các Bộ sở quan ấn định, sau khi được sự đồng ý của Bộ Lao động và Ban Lương trung ương thông qua.

Sơ cấp bậc lương và mức lương của các thang lương này ấn định dựa vào thang lương 8 bậc của công nhân cơ khí và mức lương bình quân do Ủy ban Kế hoạch Nhà nước định cho mỗi loại xí nghiệp Nhà nước.

Điều 4. – Nhân viên hành chính, quản lý xí nghiệp Nhà nước được xếp vào những thang lương riêng do các Bộ sở quan ấn định sau khi được Bộ Lao động đồng ý và Ban Lương trung ương thông qua. Việc xây dựng các thang lương riêng cho nhân viên hành chính, quản lý xí nghiệp phải dựa vào thang lương công nhân sản xuất trong ngành và tình hình sắp xếp nhân viên cơ quan hành chính Nhà nước.

Điều 5. – Lương thấp nhất định là 27.300 đồng một tháng.

Lương cao nhất của thang lương 8 bậc của công nhân cơ khí xí nghiệp gấp 3,16 lần lương thấp nhất.

Lương cao nhất của thang lương 14 bậc của nhân viên kỹ thuật gấp 5,31 lần lương thấp nhất.

Lương cao nhất của thang lương nhân viên hành chính, quản lý xí nghiệp không được vượt quá 5 lần lương thấp nhất.

Điều 6. – Căn cứ vào ba yếu tố: tính chất quan trọng của mỗi ngành sản xuất trong nền kinh tế quốc dân; tính chất phức tạp của kỹ thuật; và điều kiện lao động khác nhau trong mỗi ngành sản xuất để phân biệt đãi ngộ giữa các loại xí nghiệp, nay chia các loại xí nghiệp công nghiệp thành ba loại sản nghiệp như sau:

Loại I: mỏ than và các khoáng sản khác.

Loại II: điện lực, cơ khí, sản xuất vật liệu xây dựng.

Loại III: công nghiệp nhẹ.

Đối với các xí nghiệp khác, việc sắp xếp vào một trong những loại sản nghiệp nói trên do Bộ sở quan ấn định căn cứ vào ba yếu tố nói ở đoạn 1 điều này và phải được sự đồng ý của Bộ Lao động .

Điều 7. - Để tiến tới quy định các khu vực lương, căn cứ vào ba yếu tố: điều kiện công tác khó khăn, xa xôi, khí hậu xấu; điều kiện sinh hoạt khó khăn, vật giá đắt đỏ có tính chất thường xuyên; sự cần thiết khuyến khích nhiều người vào làm việc tại các khu vực công nghiệp quan trọng, nay điều chỉnh các loại khu vực và định suất phụ cấp khu vực như sau:

KHU VỰC

Khu vực đặc biệt

Khu vực I

Khu vực II

Khu vực III

Khu vực IV

Khu vực V

ĐỊNH SUẤT

35% lương cấp bậc

25% lương cấp bậc

20% lương cấp bậc

12% lương cấp bậc

10% lương cấp bậc

6% lương cấp bậc

Bộ Lao động sẽ cùng Bộ Nội vụ sắp xếp các địa phương và các cơ sở sản xuất vào các khu vực nói trên.

Điều 8. - Để giảm bớt các thứ phụ cấp có tính chất phụ vào lương và không hợp lý, nay bỏ các khoản phụ cấp thường xuyên về hao mòn sức khỏe mà thực chất là đã được tính vào các mức lương cấp bậc mới.

Điều 9. – Nay bỏ khoản phụ cấp kỹ thuật hiện hành đã được tính vào các mức lương trong thang lương nhân viên kỹ thuật 14 bậc.

Điều 10. - Để thống nhất dần chế độ tiền lương, nay bỏ dần chế độ bán cung cấp:

- Về nhà ở, điện nước: những người đang ở trong tập thể sẽ phải trả một khoản tiền theo tiêu chuẩn được sử dụng và mức độ sử dụng;

- Về chế độ ăn tập thể theo lối cung cấp: sẽ chuyển dần thành chế độ phúc lợi tập thể.

Điều 11. – Nay thành lập một quỹ xã hội để đài thọ các khoản trợ cấp có tính chất xã hội như: trợ cấp khi sinh đẻ, trợ cấp cho gia đình đông con , trợ cấp khi ốm đau, khi bị thương tật, khi về hưu hoặc chết.

Nhiệm vụ cụ thể và tổ chức quỹ xã hội sẽ do một nghị định riêng quy định.

Điều 12. - Kể từ ngày thi hành nghị định này, chế độ phụ cấp con hiện hành không áp dụng nữa đối với công nhân, nhân viên kỹ thuật nhân viên hành chính và quản lý xí nghiệp Nhà nước.

Để chiếu cố đến những người có đông con ở trong hoàn cảnh khó khăn, nay đặt một khoản trợ cấp là 5.000 đồng một tháng cho mỗi con chưa quá 16 tuổi, kể từ con thứ ba trở đi. Nếu con còn đi học thì được hưởng trợ cấp này cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Điều 13. – Công nhân sản xuất ở khu vực sản xuất được hưởng lương trả theo lương ngày.

Bộ Lao động sẽ dựa trên cơ sở chế độ lương đã được cải tiến mà điều chỉnh và mở rộng dần việc thi hành từng bước, có lãnh đạo, chế độ lương theo sản phẩm.

Điều 14. - Bộ Lao động sẽ quy định nguyên tắc xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật và ấn định bản tiêu chuẩn kỹ thuật tiêu biểu cho công nhân cơ khí làm căn cứ để xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật công nhân trong các ngành.

Tiêu chuẩn để sắp xếp cho các loại công nhân do các Bộ sở quan ấn định dựa vào các tiêu chuẩn tiêu biểu, đặc điểm sản xuất và trình độ kỹ thuật của mỗi ngành.

Bộ Lao động sẽ giúp đỡ các Bộ khác trong việc xây dựng và cân đối các tiêu chuẩn kỹ thuật của công nhân trong các ngành sản xuất.

Điều 15. - Nghị định này thi hành kể từ ngày 01 tháng 03 năm 1958 đối với công nhân, nhân viên kỹ thuật và nhân viên hành chính, quản lý (kể cả công nhân, viên chức lưu dụng nguyên lương) hiện công tác ở các xí nghiệp Nhà nước.

Ngày thi hành đối với công nhân, nhân viên kỹ thuật làm việc trong các cơ quan hành chính và sự nghiệp của Nhà nước sẽ do một nghị định sau ấn định.

Điều 16. – Khi thi hành nghi định này, những người mà mức lương mới (gồm lương chính, phụ cấp khu vực và trợ cấp con nếu có) thấp hơn mức lương hiện lĩnh (gồm lương chính, phụ cấp khu vực, phụ cấp con, phụ cấp ăn ở ngoài nếu có) sẽ được hưởng khoản tiền chênh lệch.

Điều 17. - Bộ Lao động sẽ hướng dẫn việc sắp xếp cho công nhân, nhân viên kỹ thuật và nhân viên hành chính, quản lý các xí nghiệp Nhà nước vào các thang lương quy định trong nghị định này.

Điều 18. – Nghị định số 650-TTg ngày 30 tháng 12 năm 1955 đặt các thang lương của cán bộ, công nhân và nhân viên, các cơ quan và xí nghiệp Nhà nước nay không áp dụng đối với những người được hưởng chế độ lương mới quy định trong nghị định này.

Điều 19. – Các ông Bộ trưởng và các Ủy ban hành chính khu, tỉnh và thành phố chịu trách nhiệm thi hành nghị này.

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ




Phạm Văn Đồng

Văn bản liên quan nội dung
verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 182-TTg năm 1958 quy định chế độ lương cho khu vực sản xuất do Thủ tướng Chính Phủ ban hành

Số hiệu: 182-TTg
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 07/04/1958
Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
Người ký: Phạm Văn Đồng
Ngày công báo: 23/04/1958
Số công báo: Số 14
Ngày hiệu lực: 22/04/1958
Tình trạng: Chưa xác định
Lĩnh vực: Lao động - Tiền lương
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 182-TTg năm 1958 quy định chế độ lư...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký