Skip to main content
trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Luật kinh doanh bất động sản sửa đổi
  • search Quy trình đăng ký doanh nghiệp trực tuyến
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

toc Mục lục

Nghị định số 22/2004/NĐ-CP do Chính phủ ban hành nhằm quy định chi tiết về việc kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo thuộc Ủy ban nhân dân các cấp. Văn bản này hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo trong tình hình mới, bảo đảm tính thống nhất, tinh gọn và phù hợp với thực tiễn của từng địa phương.

Phạm vi điều chỉnh của Nghị định tập trung vào các nguyên tắc, tiêu chí thành lập, mô hình tổ chức và thẩm quyền quyết định đối với bộ máy làm công tác tôn giáo thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã trên phạm vi cả nước. Đối tượng áp dụng bao gồm Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân và các cán bộ, công chức trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tôn giáo.

Nguyên tắc kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo

Việc kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc cơ bản sau:

  • Tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác tôn giáo nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu và nhiệm vụ phát sinh trong tình hình mới.
  • Bảo đảm sự phù hợp chặt chẽ với nhiệm vụ, khối lượng công việc thực tế và đặc điểm yêu cầu thực tiễn của từng địa phương về công tác tôn giáo.
  • Thực hiện theo hướng tinh gọn, hiệu quả; ưu tiên tổ chức các sở, ban, phòng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực nhằm đáp ứng chủ trương cải cách hành chính nhà nước.
Tiêu chí và mô hình tổ chức làm công tác tôn giáo cấp tỉnh

Tại cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), việc tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo được phân chia dựa trên các tiêu chí cụ thể:

  • Thành lập Ban Tôn giáo: Ban Tôn giáo được thành lập với vai trò là cơ quan tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tôn giáo, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng. Điều kiện thành lập là địa phương phải đáp ứng tối thiểu 4 trong số 6 tiêu chí sau:
    • Có hoạt động tôn giáo diễn ra thường xuyên trên địa bàn tỉnh.
    • Tỷ lệ tín đồ tôn giáo chiếm từ 10% dân số toàn tỉnh trở lên.
    • Có số lượng chức sắc, chức việc, nhà tu hành từ 200 người trở lên.
    • Có trụ sở, văn phòng của các tổ chức tôn giáo cấp tỉnh hoặc trung ương (như Tòa giám mục, cơ quan trung ương hoặc cấp tỉnh của các tổ chức tôn giáo); có các cơ sở đào tạo tôn giáo hợp pháp (như Đại chủng viện của Công giáo, Học viện Phật học của Phật giáo, Viện Thánh kinh thần học của Tin lành, hoặc các cơ sở đào tạo hợp pháp khác); hoặc có các địa điểm hành hương, lễ hội tôn giáo quy mô lớn.
    • Có từ 100 cơ sở thờ tự tôn giáo trở lên trên địa bàn.
    • Địa bàn quản lý có tính chất khó khăn, phức tạp về tôn giáo.
  • Mô hình thay thế khi chưa đủ điều kiện thành lập Ban Tôn giáo độc lập: Đối với các tỉnh không đáp ứng đủ các tiêu chí nêu trên, tổ chức làm công tác tôn giáo sẽ được thực hiện theo một trong hai mô hình:
    • Mô hình thứ nhất: Thành lập Ban Tôn giáo trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, có con dấu riêng. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo về chuyên môn, trong khi Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện và điều kiện làm việc.
    • Mô hình thứ hai: Giao chức năng quản lý nhà nước về tôn giáo cho một Sở quản lý đa ngành, đa lĩnh vực trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (Sở này sẽ quản lý công tác tôn giáo cùng một số lĩnh vực chuyên môn khác có liên quan chặt chẽ).
Tiêu chí và mô hình tổ chức làm công tác tôn giáo cấp huyện

Tại các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), tổ chức làm công tác tôn giáo được quyết định dựa trên đặc điểm và khối lượng công việc thực tế:

  • Thành lập Phòng Tôn giáo: Phòng Tôn giáo thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện được thành lập khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chí sau:
    • Có trụ sở, văn phòng của các tổ chức tôn giáo cấp tỉnh hoặc trung ương; có các cơ sở đào tạo tôn giáo hợp pháp hoặc địa điểm hành hương, lễ hội lớn của các tôn giáo trên địa bàn.
    • Có đông đồng bào theo tôn giáo, nhiều chức sắc tôn giáo, có nhiều hoạt động, sinh hoạt tôn giáo diễn ra và địa bàn mang tính chất khó khăn, phức tạp.
  • Mô hình thay thế tại cấp huyện: Đối với các huyện có hoạt động tôn giáo nhưng chưa đủ tiêu chí để thành lập Phòng Tôn giáo riêng biệt, việc tổ chức được thực hiện theo một trong hai phương án:
    • Phương án thứ nhất: Thành lập phòng chuyên môn quản lý đa ngành, đa lĩnh vực trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện (trong đó bao gồm công tác tôn giáo và các công tác chuyên môn liên quan khác), bảo đảm tổng số phòng theo đúng quy định của Chính phủ tại Nghị định số 12/2001/NĐ-CP.
    • Phương án thứ hai: Bố trí một bộ phận chuyên trách làm công tác tôn giáo thuộc Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện, hoặc thuộc một phòng chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Bố trí nhân sự làm công tác tôn giáo cấp xã

Đối với cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã), không thành lập tổ chức quản lý tôn giáo độc lập. Việc quản lý được thực hiện thông qua việc bố trí nhân sự cụ thể:

  • Phân công một Ủy viên Ủy ban nhân dân cấp xã kiêm nhiệm theo dõi, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn.
  • Đối với các xã thuộc địa bàn khó khăn, phức tạp về tôn giáo, có thể xem xét bố trí thêm một cán bộ tăng cường để chuyên trách làm công tác tôn giáo.
Thẩm quyền thành lập và quản lý tổ chức bộ máy

Nghị định quy định rõ thẩm quyền và quy trình quyết định thành lập bộ máy làm công tác tôn giáo như sau:

  • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm căn cứ vào các nguyên tắc và tiêu chí quy định tại Nghị định này để xây dựng đề án kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo của địa phương, sau đó trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định.
  • Đối với các tỉnh đã có sẵn cơ quan làm công tác tôn giáo cấp tỉnh hoạt động ổn định thì không cần tiến hành lại thủ tục thành lập mới.
  • Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế của cơ quan làm công tác tôn giáo địa phương. Việc quy định này phải dựa trên hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ. Đồng thời, địa phương phải gửi báo cáo về công tác kiện toàn này tới Thủ tướng Chính phủ, Ban Tôn giáo Chính phủ và Bộ Nội vụ.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm tổ chức thực hiện

Điều khoản thi hành của Nghị định quy định rõ:

  • Hiệu lực pháp lý: Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo.
  • Trách nhiệm hướng dẫn và theo dõi: Bộ trưởng Bộ Nội vụ phối hợp với Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ chịu trách nhiệm hướng dẫn và theo dõi việc triển khai thực hiện các nội dung của Nghị định này trên phạm vi toàn quốc.
  • Trách nhiệm thi hành: Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc các quy định tại Nghị định này.

CHÍNH PHỦ
********

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
********

Số: 22/2004/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 12 tháng 1 năm 2004

NGHỊ ĐỊNH

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 22/2004/NĐ-CP NGÀY 12 THÁNG 01 NĂM 2004 VỀ KIỆN TOÀN TỔ CHỨC BỘ MÁY LÀM CÔNG TÁC TÔN GIÁO THUỘC UỶ BAN NHÂN DÂN CÁC CẤP

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Để thực hiện nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác tôn giáo;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1. Nguyên tắc kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo

1. Tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác tôn giáo, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

2. Phù hợp với nhiệm vụ, khối lượng công việc và yêu cầu thực tiễn ở địa phương về công tác tôn giáo.

3. Tinh gọn, hiệu quả, tổ chức sở, ban, phòng quản lý đa ngành, đa lĩnh vực phù hợp với chủ trương cải cách hành chính nhà nước.

Điều 2. Tiêu chí kiện toàn và mô hình tổ chức làm công tác tôn giáo ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh)

1. Thành lập Ban Tôn giáo là cơ quan tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác tôn giáo, có con dấu, tài khoản riêng khi có ít nhất 4 trong 6 tiêu chí sau:

a) Có hoạt động tôn giáo diễn ra thường xuyên trên địa bàn tỉnh;

b) Có từ 10% dân số của tỉnh trở lên là tín đồ tôn giáo;

c) Có số lượng chức sắc, chức việc, nhà tu hành từ 200 người trở lên;

d) Có trụ sở, văn phòng của các tôn giáo như Toà giám mục, cơ quan trung ương và cơ quan cấp tỉnh của các tổ chức tôn giáo; có Đại chủng viện (Công giáo), Học viện Phật học (Phật giáo), Viện Thánh kinh thần học (Tin lành), các cơ sở đào tạo hợp pháp khác của các tổ chức tôn giáo; có các địa điểm hành hương, lễ hội lớn của các tôn giáo;

đ) Có từ 100 cơ sở thờ tự trở lên;

e) Có địa bàn khó khăn, phức tạp.

2. Đối với những tỉnh chưa đủ điều kiện để thành lập Ban Tôn giáo theo quy định tại khoản 1 Điều này thì tổ chức làm công tác tôn giáo được tổ chức theo một trong hai mô hình sau:

a) Ban Tôn giáo trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, có con dấu riêng; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo trực tiếp về công tác chuyên môn, Văn phòng Uỷ ban nhân dân tỉnh bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện và điều kiện làm việc;

b) Sở quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực trong đó có quản lý công tác tôn giáo và quản lý một số công tác chuyên môn khác có liên quan nhiều đến công tác tôn giáo, trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.

3. Tiêu chí kiện toàn và mô hình tổ chức làm công tác tôn giáo ở quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện).

Căn cứ đặc điểm, khối lượng công việc quản lý nhà nước về tôn giáo trên địa bàn cấp huyện, tổ chức làm công tác tôn giáo cấp huyện thực hiện như sau:

a) Thành lập Phòng Tôn giáo thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện khi có đủ các tiêu chí sau đây:

Có trụ sở, văn phòng của các tôn giáo như Toà giám mục, cơ quan trung ương và cơ quan cấp tỉnh của các tổ chức tôn giáo; có Đại chủng viện (Công giáo), Học viện Phật học (Phật giáo), Viện Thánh kinh thần học (Tin lành), các cơ sở đào tạo hợp pháp khác của các tổ chức tôn giáo; có các địa điểm hành hương, lễ hội lớn của các tôn giáo;

Có đông đồng bào theo tôn giáo và chức sắc tôn giáo, có nhiều sinh hoạt, hoạt động tôn giáo và địa bàn khó khăn, phức tạp.

b) Đối với những huyện có các hoạt động tôn giáo nhưng chưa đủ các tiêu chí quy định tại điểm a khoản 3 Điều này thì tổ chức làm công tác tôn giáo thực hiện theo một trong hai mô hình sau:

Thành lập phòng chuyên môn quản lý đa ngành, đa lĩnh vực trong đó có công tác tôn giáo và công tác chuyên môn khác có liên quan nhiều đến công tác tôn giáo trực thuộc Uỷ ban nhân dân cấp huyện nhưng bảo đảm số phòng theo quy định của Nghị định số 12/2001/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2001 của Chính phủ;

Bố trí bộ phận chuyên trách làm công tác tôn giáo thuộc Văn phòng Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân hoặc của phòng chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

4. Đối với xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) không có tổ chức độc lập mà bố trí cán bộ như sau:

a) Phân công một ủy viên Uỷ ban nhân dân kiêm nhiệm theo dõi, tổ chức thực hiện công tác tôn giáo trên địa bàn;

b) Đối với xã là địa bàn khó khăn, phức tạp có thể bố trí một cán bộ tăng cường làm công tác tôn giáo.

Điều 3. Thẩm quyền thành lập tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo thuộc Uỷ ban nhân dân các cấp

1. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào nguyên tắc và tiêu chí kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo quy định tại Nghị định này, xây dựng đề án kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo của địa phương mình trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định.

2. Đối với những tỉnh đã có cơ quan làm công tác tôn giáo cấp tỉnh thì không tiến hành thủ tục thành lập lại.

3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và biên chế của cơ quan làm công tác tôn giáo theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ; gửi báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Ban Tôn giáo Chính phủ và Bộ Nội vụ về công tác kiện toàn tổ chức làm công tác tôn giáo ở địa phương.

Điều 4. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Điều 5. Trách nhiệm thi hành

Bộ trưởng Bộ Nội vụ phối hợp với Trưởng ban Ban Tôn giáo Chính phủ hướng dẫn, theo dõi thực hiện Nghị định này.

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

Phan Văn Khải

(Đã ký)

verified HIỆU LỰC VĂN BẢN

Nghị định 22/2004/NĐ-CP về việc kiện toàn tổ chức bộ máy làm công tác tôn giáo thuộc Ủy ban nhân dân các cấp

Số hiệu: 22/2004/NĐ-CP
Loại văn bản: Nghị định
Ngày ban hành: 12/01/2004
Nơi ban hành: Chính phủ
Người ký: Phan Văn Khải
Ngày công báo: 16/01/2004
Số công báo: Số 11
Ngày hiệu lực: 31/01/2004
Tình trạng: Hết hiệu lực
Lĩnh vực: Bộ máy hành chính
auto_awesome Hỏi Đáp AI (Demo)
Online
👋 Xin chào! Tôi là Trợ lý AI Pháp Luật. Bạn cần giải đáp hoặc tóm tắt điều khoản nào trong Nghị định 22/2004/NĐ-CP về việc kiện toàn tổ...?
✨ 3 điểm chính 📅 Ngày hiệu lực ✍️ Người ký